Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HSST

Ngày: 13-3-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Lệ

Bà Dương Thị Mỹ Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy- Thư ký của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng: Ông Trần Văn Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1- Trần Thị Thúy N, sinh ngày 01/01/1994 tại Đà Nẵng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Trần Thị T (chết). Bị cáo có 04 con, lớn nhất sinh năm 2012 và nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền sự: Không.

Tiền án: Năm 2023, bị TAND quận Liên Chiều xử phạt 08 (T1) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tòa án ra Quyết định hoãn thi hành án do nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Nhân thân: Bị cáo đang là bị can trong vụ án “Giết người” xảy ra ngày 19/01/2024 tại phường H, quận T, tp Đà Nẵng.

Bị cáo N bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/7/2024; có mặt tại phiên tòa.

2- Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 23/11/1990 tại Hà Nội; nơi ĐKHKTT: Cụm A, thôn P, xã T, huyện T, TP . Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Số F N, phường H, quận L, TP .; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị S; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân:

  • - Năm 2009, bị TAND huyện Thường Tín, TP . Hà Nội xử phạt 06 (S1) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”;
  • - Năm 2019, bị TAND huyện Thường Tín, TP. Hà Nội xử phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
  • - Ngày 29/7/2024, bị Công an thành phố Đ ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng.

Bị cáo H bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/7/2024; có mặt tại phiên tòa.

3- Lê Văn H1, sinh ngày 16/02/1994 tại Đà Nẵng; nơi ĐKHKTT: Tổ E, phường H, quận L, TP .; chỗ ở hiện nay: Tổ F, phường H, quận L, TP .; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T2 và bà Đinh Thị L; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 29/7/2024, bị Công an thành phố Đ ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng.

Bị cáo H1 bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/7/2024; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Ông Trần Vũ T3, trú tại: A đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
  • + Bà Trà Thị Thùy T4, sinh năm 1994, trú tại: Tổ F, phường H, quận L, TP .; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ 40 phút, ngày 24/7/2004, tại đường X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Phòng CSĐTTP về ma túy Công an thành phố Đ phát hiện bắt quả tang Lê Văn H1 đang điều khiển xe mô tô BKS: 43T3-2868 có hành vì tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ:

  • - 01 gói nylong màu đen, bên trong chứa tinh thể rắn, trắng, niêm phong ký hiệu A;
  • - 01 xe mô tô Wave màu xanh, gắn BKS: 49T3-2868.

Lúc 20 giờ 55 phút ngày 24/7/2024, tại ngã tư đường N- K, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Phòng CSĐTTP về ma túy Công an thành phố Đ phát hiện bắt quả tang Nguyễn Ngọc H đang điều khiển xe mô tô BKS: 43-520-E2 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Tang vật thu giữ:

  • - 01 gói xốp màu trắng hồng, bên trong có 01 gói nilong màu đen kích thước (2,5x3)cm có chứa các tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu B;
  • - 01 xe mô tô có chữ Dream, gắn biển số 43-520-E2;
  • - 01 điện thoại di động có chữ Iphone, màu den, gån sim 0981.222.923, số I: 357287099596340.

Lúc 22 giờ 30 phút, ngày 24/7/2024, tại gần khách sạn M đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Phòng CSDTTP về ma tuý Công an thành phố Đ phát hiện, bắt quả tang Trần Thị Thúy N đang điều khiển xe mô tô BKS: 43D1-520.99 về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý.

Tang vật thu giữ:

  • - 01 xe mô tô Exciter màu đỏ đen, gắn BKS: 43D1-52099;
  • - 01 gói xốp màu hồng, bên trong chứa gói nylong đen, bên trong chứa tinh thể rắn, trắng-niêm phong ký hiệu N1;
  • - 02 gói giấy trắng, bên trong đều chứa gói nylong đen, bên trong chứa tinh thể rắn, trắng-niêm phong ký hiệu N2;
  • - 01 vỏ kẹo vàng, bên trong có gói nylong đen, chứa tinh thể rắn, trắng-niêm phong ký hiệu N3;
  • - 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, bên trong chứa chất bột trắng-niêm phong ký hiệu N5;
  • - 01 vỏ kẹo vàng, bên trong có gói nylong đen, chứa tinh thể rắn, trắng-niêm phong ký hiệu N4;
  • - 01 gói xốp màu hồng, bên trong có gói nylong đen chứa tinh thể rắn, trắng-niêm phong ký hiệu N6;
  • - 01 điện thoại di động Iphone, mặt sau bị vỡ gắn sim 1: 0867515429; sim 2: 0865329411;
  • - 01 điện thoại di động Readme xanh, N khai không biết mật khẩu để kiểm tra.

Lúc 0 giờ 10 phút, ngày 25/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Trần Thị Thúy N tại phòng 102 nhà nghĩ B, số A đường B, phường H, quận L, thành phố Đ, phát hiện, thu giữ của Trần Thị Thúy N:

  • - 01 chai thủy tinh trong suốt, nắp chai bằng nhựa màu vàng được cố định bằng keo trắng, trên nắp chai có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút màu trắng-tím-vàng; một lỗ không gắn gì;
  • - 01 bật lửa màu đỏ;
  • - 01kéo inox;
  • - 01 kéo có tay cẩm nhựa đen;
  • - 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng.

Lúc 03 giờ 30 phút, ngày 25/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Trần Thị Thúy N tại K đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng phát hiện, thu giữ của Trần Thị Thúy N1:

  • - 30 bao nilong màu trắng kích thuớc (3x3,25)cm, chưa qua sử dụng;
  • - 01 cái kéo màu xanh;
  • - 05 miếng xốp màu trắng hồng;
  • - 04 bao nylong màu đen, kích thước (2,5x3)cm chưa qua sử dụng;
  • - 01tẩu thủy tinh;

Lúc 15 giờ 00 phút, ngày 25/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở đối với Trần Thị Thúy N tại K đường T, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng: Không thu giữ gì.

Qua điều tra đã xác định: Trần Thị Thúy N là đối tượng không nghề nghiệp, để có tiền tiêu xài và sử dụng ma tuý. N đã thực hiện việc mua bán trái phép chất ma tuý từ khoảng tháng 2,3 năm 2024, bị cáo bán ma tuý thu lợi được để phục vụ nhu cầu cá nhân và nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý, bị cáo thu lợi được 1.000.000 đồng-2.000.000 đồng. Ngày 20/7/2024, N đã mua 05gam ma tuý đá với giá 4.500.000 đồng của một người phụ nữ tên Đ (không rõ nhân thân lai lịch). Sau khi có ma tuý thì N mang về nhà anh ruột Trần Vũ T3 tại địa chỉ K đường N phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng và Phòng 102 nhà nghĩ Bolero số 01-03 đường B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng rồi phân chia ma tuý thành những gói nhỏ để bán cho con nghiện. Từ ngày 20/7/2024 đến ngày 24/7/2024, N đã bán ma tuý cho các đối tượng, cụ thể sau:

  • + Khoảng 12 giờ 20 phút, ngày 24/7/2024, Lê Văn H1 mượn điện thoại di động của vợ là Trà Thị Thùy T4 liên lạc qua mạng xã hội với Huỳnh Cửu L1 hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá. Lanh yêu cầu H1 chuyển tiền qua tài khoản Momo số 0796534449 của L1. Hân đến tiệm Đ1 trên đường N nhờ chuyển tiền giúp rồi đưa tiền mặt cho họ. Sau khi chuyển tiền xong, L1 nói N đưa gói ma tuý đá rồi L1 đem xuống trước khách sạn B rồi vứt gần thùng rác rồi thông báo cho H1 đến lấy. Sau khi mua ma tuý thì H1 điều khiển xe mô tô Wave BKS: 43T3-2868 đi tìm địa điểm để sử dụng, khi đến đường X thì bị Phòng CSĐTTP về ma tuý Công an thành phố Đ phát hiện bắt quả tang (theo lời khai của H1 và N).
  • + Ngày 23/7/2024, Lê Văn H1 bằng thủ đoạn như trên đã mua của Huỳnh Cửu L1 300.000 đồng ma tuý đá (theo lời khai của H1).
  • + Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 24/7/2024, Nguyễn Ngọc H liên lạc qua ứng dụng Zalo với N hỏi mua gói ma tuý đá với giá 500.000 đồng, N đồng ý và yêu cầu H chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng A số tài khoản 1026308467 mang tên Trần Thị Thúy N, H chuyển cho N 400.000 đồng vì trước đây N còn nợ H 100.000 đồng. Sau khi nhận tiền thì N chỉ gói ma tuý đá đã vứt sẵn ở khu vực đường N với Nguyễn Sinh S2. H điều khiển xe mô tô 43E2-520 đến địa điểm trên lấy gói ma tuý rồi tìm địa điểm sử dụng. Khi đến ngã ba Nguyễn Sinh S2 giao với Kinh Dương V thì bị Phòng CSĐTTP về ma tuý Công an thành phố Đ phát hiện bắt quả tang.
  • + Ngày 22/7/2024, Nguyễn Ngọc H bằng thủ đoạn như trên đã mua của Trần Thị Thủy N2 01 gói ma tuý đá với giá 500.000 đồng, H đã chuyển khoản vào tài khoản của N2 600.000 đồng, N2 nợ lại 100.000 đồng.
  • + Ngày 20/7/2024, Nguyễn Ngọc H cũng bằng thủ đoạn như trên đã mua của Trần Thị Thủy N2 300.000 đồng ma tuý đá, H đã chuyển 300.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của N2.
  • + Tối ngày 24/7/2024, N2 còn bán một gói ma tuý đá với giá 400.000 đồng cho một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) tại trước quán N3 dưới chân cầu vượt Ngã ba Huế.
  • + Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 24/7/2024, tại gần khách sạn M1 đường N, phường H, quận L, thành phố Đ, Phòng CSĐTTP về ma tuý Công an thành phố Đ phát hiện bắt quả tang Trần Thị Thủy N2 về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Kết quả thử nước tiểu đối với Trần Thị Thúy N, Nguyễn Ngọc H, Lê Văn H1 cho kết quả dương tính với ma tuý tổng hợp nên Công an thành phố Đ đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Theo bản Kết luận giám định số: 296/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ, kết luận:

Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng trong các bì niêm phong ký hiệu A, B, NI, N2, N3, N4, Nó là ma túy, loại Methamphetamin; chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu N5 là ma tuỷ loại Ketamin. Khối lượng mẫu A 0,223 gam, mẫu B 0,194 gam, mẫu N1 0,433gam, mẫu N2 0,503 gam, mẫu N3 0,176 gam, mẫu N4 0,176 gam, mẫu N5 0,028gam, mẫu N6 0,192gam.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo:

  • - Bị cáo Trần Thị Thúy N bị Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b,c,q khoản 2 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  • - Các bị cáo Lê Văn H1, Nguyễn Ngọc H bị Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Trần Thị Thúy N, Nguyễn Ngọc H, Lê Văn H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung Cáo trạng. Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” của bị cáo Trần Thị Thúy N, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu rút yêu cầu truy tố tình tiết phạm tội “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của các bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:

* Đối với bị cáo Trần Thị Thúy N:

  • - Áp dụng: Điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị Thúy N mức án từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị Thúy N mức án từ 01 năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng: Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt đối với hai tội danh.

* Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H:

  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Đối với bị cáo Lê Văn H1:

  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập đường lối xử lý về tang vật chứng, hình phạt bổ sung, tiền án phí.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, thành phố Đà Nẵng; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu rút yêu cầu truy tố đối với bị cáo Trần Thị Thúy N về tình tiết phạm tội “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu truy tố của của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận và không xét xử bị cáo N đối với tình tiết này.

[3]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Qua xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Năm 2023, bị cáo Trần Thị Thúy N bị TAND quận Liên Chiểu xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và được Tòa án cho hoãn chấp hành án do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, tuy nhiên từ ngày 20/7 đến ngày 24/7/2024, tại địa bàn quận L, Trần Thị Thúy N đã 03 lần bán ma tuý đá cho Nguyễn Ngọc H; ngày 24/7/2024, Trần Thị Thúy N đã 01 lần bán ma tuý đá cho Lê Văn H1. Ngoài ra, ngày 24/7/2024, Trần Thị Thúy N có hành vi tàng trữ 0,028 gam Ketamin. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo N cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm b và điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" thuộc trường hợp “...đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm... " quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Ngày 24/7/2024, Lê Văn H1 có hành vi tàng trữ 0,223 gam Methamphetamine; Nguyễn Ngọc H có hành vi tàng trữ 0,194 gam Methamphetamine. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo H, bị cáo H1 cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” thuộc trường hợp “...Methamphetamine có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam " quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[4]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, các bị cáo Trần Thị Thúy N, Nguyễn Ngọc H, Lê Văn H1 là những người có năng lực trách nhiệm hình sự nên nhận thức rõ tác hại của ma túy là chất gây nghiện, ma túy không chỉ gây tổn hại sức khoẻ và tinh thần của con người mà còn là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ, chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, gây nên những hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và tệ nạn xã hội, đồng thời còn là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Nhận thức rõ điều đó, thế nhưng các bị cáo bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra mới đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Cần phải cách ly các bị cáo một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[5]. Xét vai trò phạm tội của từ ng bị cáo thì thấy:

Trong vụ án này, bị cáo N là đối tượng không có nghề nghiệp, năm 2023 bị TAND quận Liên Chiểu xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và được Tòa án cho hoãn chấp hành án do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nhưng để có tiền tiêu sài cá nhân và ma túy sử dụng nên từ ngày 20/7 đến ngày 24/7/2024, trên địa bàn quận L, bị cáo đã mua ma túy và 03 lần bán ma tuý đá cho Nguyễn Ngọc H và 01 lần bán ma tuý đá cho Lê Văn H1 thu lợi bất chính từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Vì vậy, hành vi của Trần Thị Thúy N cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với các tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, ngày 24/7/2024, Trần Thị Thúy N có hành vi tàng trữ 0,028gam Ketamin, mặc dù số lượng ma túy bị cáo Ngọc tàng T5 chưa đủ định lượng để truy tố tuy nhiên do Trần Thị Thúy N bị Toà án nhân dân quận Liên Chiểu xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý" chưa chấp hành án nên hành vi của Trần Thị Thúy N cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H và Lê Văn H1: Ngày 24/7/2024, Lê Văn H1 có hành vi tàng trữ 0,223 gam Methamphetamine; Nguyễn Ngọc H có hành vi tàng trữ 0,194 gam Methamphetamine nhằm để sử dụng nên hành vi của Lê Văn H1, Nguyễn Ngọc H cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[6]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo N đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[7]. Về nhân thân:

Bị cáo N đang là bị can trong vụ án Giết người.

Bị cáo H có nhân thân xấu, vào năm 2009 và 2019 bị TAND huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xử phạt về tội cố ý gây thương tích và cướp tài sản.

Từ những phân tích trên, áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo N mức án nghiêm minh về hai tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo H, bị cáo H1 mức án nghiêm minh và ngang nhau về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

[8]. Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo N số tiền 10.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo H, bị cáo H1 số tiền 5.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

[9]. Về quan điểm luận tội cũng như đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:

  • - Tịch thu tiêu huỷ tang vật vụ án không có giá trị sử dụng gồm:
    • + Toàn bộ ma túy còn lại sau giám định;
    • + 01(một) chai thuỷ tinh trong suốt, nắp chai bằng nhựa màu vàng được cố định bằng keo trắng, trên nắp chai có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút màu trắng- tím-vàng; một lỗ không gắn gì;
    • + 01(một) bật lữa màu đỏ;
    • + 01(một) kéo inox;
    • + 01(một) kéo có tay cầm nhựa đen;
    • + 02(hai) đoạn ống hút nhựa màu vàng;
    • + 30(ba mươi) bao nilong màu trắng kích thước (3x3,25)cm, chưa qua sử dụng;
    • + 01(một) cái kéo màu xanh;
    • + 05(năm) miếng xốp màu trắng hồng;
    • + 04(bốn) bao nylong màu đen, kích thước (2,5x3)cm chưa qua sử dụng;
    • + 01(một) tẩu thuỷ tinh.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
    • + 01 xe mô tô Wave màu xanh, gắn BKS 49T3-2868;
    • + 01 xe mô tô có chữ Dream, gắn biển số 43-520-E2;
    • + 01 điện thoại di động có chữ Iphone, màu đen, gắn sim 0981222923, Số IMEI: 357287099596340;
    • + 01 điện thoại đi động Iphone, mặt sau bị vỡ gắn sim1: 0867515429; sim 2: 0865329411;

[11]. Đối với những vấn đề khác trong vụ án, cụ thể:

  • - Đối tượng Huỳnh Cửu L1 là người đã bán ma tuý cho Lê Văn H1 vào ngày 24/7/2024 (theo lời khai của H1 và Trần Thị Thúy N) chưa đủ căn cứ để xác định hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tách hành vi và tài liệu liên quan để tiến hành điều tra làm rõ, xử lý sau nên không đề cập bản án này.
  • - Đối với đối tượng tên Đ là người đã bán ma tuý cho Trần Thị Thúy N (theo lời khai của N) quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.

[12]. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Thúy N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • - Áp dụng: Điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thúy N 09 (Chín) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thúy N 01(Một) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 (hai) tội buộc bị cáo N phải chấp hành là 11 (Mười một) năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/7/2024.

* Truy thu của bị cáo Trần Thị Thúy N số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

* Về hình phạt bổ sung:

Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo Trần Thị Thúy N số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

2/Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc H 01(Một) năm 06 (S1) tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/7/2024.

* Về hình phạt bổ sung:

Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc H số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

3/Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H1 01(Một) năm 06 (S1) tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/7/2024.

* Về hình phạt bổ sung:

Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo Lê Văn H1 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

4/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:

  • - Tịch thu tiêu huỷ:
    • + Toàn bộ ma túy còn lại sau giám định;
    • + 01(một) chai thuỷ tinh trong suốt, nắp chai bằng nhựa màu vàng được cố định bằng keo trắng, trên nắp chai có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút màu trắng- tím-vàng; một lỗ không gắn gì;
    • + 01(một) bật lữa màu đỏ;
    • + 01(một) kéo inox;
    • + 01(một) kéo có tay cầm nhựa đen;
    • + 02(hai) đoạn ống hút nhựa màu vàng;
    • + 30(ba mươi) bao nilong màu trắng kích thước (3x3,25)cm, chưa qua sử dụng;
    • + 01(một) cái kéo màu xanh;
    • + 05(năm) miếng xốp màu trắng hồng;
    • + 04(bốn) bao nylong màu đen, kích thước (2,5x3)cm chưa qua sử dụng;
    • + 01(một) tẩu thuỷ tinh.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
    • + 01 xe mô tô Wave màu xanh, gắn BKS 49T3-2868;
    • + 01 xe mô tô có chữ Dream, gắn biển số 43-520-E2
    • + 01 điện thoại di động có chữ Iphone, màu đen, gắn sim 0981222923, Số IMEI: 357287099596340.
    • + 01 điện thoại đi động Iphone, mặt sau bị vỡ gắn sim1: 0867515429; sim 2: 0865329411;

(Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ, theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/3/2025).

5/ Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Thị Thúy N, bị cáo Nguyễn Ngọc H, bị cáo Lê Văn H1 phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6/ Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND Q. Liên Chiểu;
  • - Chi cục THADS Q. Liên Chiểu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Q. Liên Chiểu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Đức Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HSST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự

  • Số bản án: 38/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ban an số 38 ngày 13-3-25
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger