TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 38/2025/DS-PT Ngày 11-3-2025 V/v “Tranh chấp về quyền sử dụng đất" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.
Các Thẩm phán tham gia:
Ông Nguyễn Thế Hạnh
Ông Dương Hà Ngân.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 171/2024/TLPT-DS, ngày 13 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”,
Do Bản án số: 30/2024/DS-ST, ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXPT-DS ngày 11-02-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông, đối với các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế Yên, sinh năm 1967 – Có mặt.
Địa chỉ: Bon B'Dơng (thôn 9), xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
Bị đơn: Ông Bùi Văn Phụng, sinh năm 1968 – Có mặt.
Địa chỉ: Bon B’Dơng (thôn 9), xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Trần Thị Thu Hương - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Bon B'Dơng (thôn 9), xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1/ Ông Phạm Văn Dũng và bà Phạm Thị Ánh Nga - Vắng mặt không có lý do.
Cùng địa chỉ: Thôn 8, xã Liên Đầm, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
2/ Ông Đoàn Thanh Hải - Vắng mặt không có lý do.
Địa chỉ: Số nhà 155, đường Hùng Vương, tổ 2, thị trấn Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05-12-2022 (nộp trực tiếp tại Tòa án ngày 08-12-2022), quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Thế Yên trình bày: Ngày 15-7-2013, gia đình ông nhận chuyển nhượng của ông Ngô Tiến Đạt, chị Phan Thị Thuỳ Linh 02 thửa đất, gồm thửa đất số 60 và thửa 65, tờ bản đồ 56 với tổng diện tích 113.265,7m², đất toạ lạc tại bon B'Dơng (thôn 9, xã Quảng Khê), khi nhận chuyển nhượng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã có trích lục và có số đo; hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng viết tay, có xác nhận của trưởng thôn, không có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Quảng Khê, trên đất không có tài sản, giá chuyển nhượng 380.000.000đ, gia đình ông đã trả đủ tiền; hai bên không đo đạc thực tế nhưng có chỉ ranh giới, khi chuyển nhượng thửa đất có tứ cận phía Đông giáp đường Đồng Nai 3, phía Tây giáp đất ông Phụng, phía Bắc giáp đường Đồng nai 3, phía Nam giáp ông Cường, phần ranh giới giáp đất ông Phụng có 01 khe suối làm ranh giới, hiện nay vẫn còn. Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông đã nhận đất công tác, sử dụng đồng thời đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận một phần diện tích, phần còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận. Năm 2017, gia đình ông phát hiện ông Phụng lấn chiếm đất, nên đã báo Uỷ ban nhân dân xã Quảng Khê tiến hành xác minh, đo đạc thực tế, xác định diện tích đất ông Phụng lấn chiếm 3.500m², đồng thời yêu cầu ông Phụng trả đất, ông Phụng đã trả lại diện tích đất khoảng 3.000m², phần diện tích giáp mặt đường khoảng 500m² ông Phụng không trả, khoảng năm 2020 do gia đình ông có việc phải về Lâm Đồng, ông Phụng tiếp tục lấn chiếm diện tích khoảng 1.700m², gia đình ông gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã Quảng Khê giải quyết nhưng không thành, vì vậy gia đình ông khởi kiện, yêu cầu ông Bùi Văn Phụng trả lại diện tích
đất lấn chiếm theo kết quả đo đạc là 1.872,4m², buộc ông Phụng có trách nhiệm di dời một số cây trồng trên đất, ông Yên đồng ý mua lại 02 cây sầu riêng và 01 cây vú sữa theo giá thoả thuận nếu ông Phụng đồng ý.
Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn ông Bùi Văn Phụng trình bày: Năm 2007 ông có nhận chuyển nhượng của ông Đoàn Thanh Hải một lô đất với diện tích khoảng 3ha tại bon B'Dơng (thôn 9), xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, giá tiền nhận chuyển nhượng 17.000.000đ, ông Phụng đã trả đủ tiền, hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng viết tay, có chữ ký của ông Phụng, ông Hải, trên đất chuyển nhượng có khoảng gần 1.000 cây cà phê, phần còn lại trồng cây ngắn ngày, không đo đạc thực tế, có chỉ mốc giới, thửa đất có tứ cận phía Đông giáp đường Thuỷ điện, phía Tây giáp khe nước, phía Bắc giáp đất K'Lem (nay là đất của ông Phụng), phía Nam giáp đất ông Đạt, chị Linh. Thời điểm ông nhận chuyển nhượng phía đất ông Đạt là rừng chồi, khi nhận chuyển nhượng thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất chưa có sơ đồ đo đạc. Ông Phụng đã nhận đất canh tác khoảng 01 năm, sau đó không làm nữa mà đi kinh tế tại Bắc Kạn. Khoảng năm 2013 ông Phụng mới trở lại canh tác trên đất. Khoảng tháng 3 tháng 4 năm 2017 giữa ông và gia đình ông Yên xảy ra tranh chấp, cán bộ địa chính và trưởng thôn có xác minh thực tế, cho rằng ông lấn chiếm diện tích đất khoảng 3.000m², đồng thời có lập biên bản tại nhà ông Yên, ông Phụng có ký biên bản. Khoảng năm 2019 giữa ông và gia đình ông Yên lại xảy ra tranh chấp, Uỷ ban nhân dân xã Quảng Khê tiến hành hoà giải nhưng không thành.
Phần ranh giới giữa thửa đất của ông và gia đình ông Yên không phải là mương nước như ông Yên trình bày mà là ranh thẳng.
Ngoài phần diện tích đất nhận chuyển nhượng của ông Hải, năm 2006 ông nhận chuyển nhượng thêm phần đất của ông K'Lem diện tích khoảng 4ha, khi nhận chuyển nhượng không đo đạc thực tế, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Năm 2022 ông chuyển nhượng cho ông Phạm Văn Dũng, chị Phạm Thị Ánh Nga 01ha, sau đó ông Dũng đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận toàn bộ diện tích đất và làm thủ tục chuyển nhượng lại cho ông phần đất còn lại, diện tích đất ông được cấp giấy chứng nhận 30861.8m² thuộc thửa đất 110, tờ bản đồ 56, diện tích đất được cấp quyền sử dụng nêu trên là diện tích đất ông Nhận chuyển nhượng từ ông K'Lem; đối với phần diện tích đất nhận chuyển nhượng từ ông Hải, hiện nay ông Yên đang lẫn chiếm, sử dụng; ông đã nộp đơn gửi đến Uỷ ban nhân dân xã Quảng Khê yêu cầu hoà giải và sau này ông sẽ khởi kiện ông Yên bằng vụ án khác. Hiện nay ông Yên khởi kiện, yêu cầu ông Hoàn trả diện tích đất lẫn chiếm 1.872,4m², yêu cầu ông di dời cây trồng trên đất, ông không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Trần Thị Thu Hương trình bày: Đồng ý với phần trình bày của ông Nguyễn Thế Yên và không bổ sung nội dung gì thêm.
Người làm chứng ông Phạm Văn Dũng trình bày: Trước đây ông có nhận sang nhượng diện tích đất của ông Phụng khoảng 01ha, giá chuyển nhượng bao nhiêu hiện ông không nhớ, tứ cận phía trước giáp đường lộ có chiều ngang 34m, một bên giáp bờ tre, một bên giáp đất ông Phụng có đường mòn nhỏ, một bên giáp suối; khi chuyển nhượng có lập hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng công chứng tại xã Quảng Khê, người giao dịch là ông Nguyễn Tấn Dũng, con rể), ông Phạm Văn Dũng chỉ là người ký trên giấy tờ, khi nhận chuyển nhượng các bên không đo đạc, chỉ tay thửa đất với nhau.
Đối với ranh giới đất giữa ông Yên và ông Phụng, ông Dũng không biết, thửa đất trên gia đình ông đã chuyển nhượng lại cho bà Nhật (không rõ họ và tên đệm), hiện gia đình ông không quản lý, sử dụng đất, ông không giữ tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc chuyển nhượng. Việc tranh chấp giữa ông Yên và ông Phụng không liên quan đến gia đình ông.
Người làm chứng chị Phạm Thị Ánh Nga là vợ ông Dũng đã nhận các thông báo của Toà án nhưng không có ý kiến trình bày.
Người làm chứng ông Đoàn Thanh Hải trình bày: Năm 2007 ông sang nhượng cho ông Bùi Văn Phụng diện tích đất rẫy tại thôn 9, xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, diện tích đất chuyển nhượng ông không nhớ rõ, tứ cận đất sang nhượng như cam kết ngày 24-7-2007 giữa ông và ông Phụng; giá chuyển nhượng 17.000.000đ, ông đã nhận đủ tiền; thời điểm sang nhượng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi sang nhượng hai bên không đo đạc thực tế, có chỉ ranh giới thửa đất; hiện ông không lưu giữ tài liệu liên quan đến việc sang nhượng. Việc tranh chấp giữa ông Yên và ông Phụng không liên quan đến ông.
Tại bản án số 30/2024/DS-ST ngày 23-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong đã quyết định: Căn cứ Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 166, Điều 168 của Luật đất đai; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế Yên đối với ông Bùi Văn Phụng. Buộc ông Bùi Văn Phụng phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 1872,4m² (theo sơ đồ đo đạc ngày 01-7-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng kỷ đất đai Đắk Glong), đất toạ lạc tại bon B'Dơng, xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông; có tứ cận: Phía Nam là góc nhọn của phần đất tranh chấp; phía Bắc giáp
đường thuỷ điện; phía Đông giáp đất ông Yên đang quản lý, sử dụng; phía Tây giáp đất ông Phụng đang quản lý, sử dụng và di rời tài sản trên đất gồm 09 cây cà phê; 20 cây bơ 034; 01 cây vú sữa; 02 cây sầu riêng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 07-10-2024, ông Bùi Văn Phụng kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST, ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Nguyên đơn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật, riêng đối với phần tài sản trên phần đất trông chấp gồm 09 cây cà phê; 20 cây bơ 034; 01 cây vú sữa; 02 cây sầu riêng ông Yên đồng ý trả cho ông Phụng giá trị tài sản trên mà hai bên đã thỏa thuận là 11.790.000 đồng, ông Nguyễn Văn Yên được sử dụng khai thác các cây cối trên .
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết, phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của thực hiện trong thời hạn luật định. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục theo Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Bùi Văn Phụng, sửa một phần Bản án Dân sự 30/2024/DS-ST, ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Đắk Glong theo hướng nguyên đơn thanh toán số tiền 11.790.000 đồng giá trị cây cối cho bị đơn, ông Nguyễn Văn Yên được sử dụng khai thác các cây cối.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả trông luận, đối chiếu quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Bùi Văn Phụng đảm bảo quyền kháng cáo, hình thức, nội dung và thời hạn theo đúng quy định tại các Điều 217, 272, khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó việc thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của ông Bùi Văn Phụng; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án:
[2.1]. Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu trả lại phần đất đã lấn chiếm, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án này là "Tranh chấp quyền sử dụng đất" là có căn cứ.
[2.2]. Về nội dung: Ông Bùi Văn Phụng kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn HĐXX thấy rằng.
Lời khai của nguyên đơn, những người làm chứng đều thừa nhận giữa thửa đất của ông Nguyễn Thế Yên và ông Bùi Văn Phụng có 01 khe nước làm ranh giới; Tại bản cam kết ngày 24-7-2007 (bản chất là giấy sang nhượng đất) giữa ông Phụng và ông Đoàn Ngọc Hải thể hiện phần ranh phía Nam của thửa đất giáp với đất rừng chồi của ông Đạt và khe nước. Đồng thời, căn cứ các GCN QSDĐ số CN 205589, cấp ngày 01/6/2018, mang tên ông Phạm Văn Dũng – bà Phạm Thị Ánh Nga, GCN QSDĐ số CI 2622569, cấp ngày 09-10-2017, mang tên ông Nguyễn Thế -Yên -bà Trần Thị Thu Hương; biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04-4-2024; các sơ đồ lồng ghép, phiếu xác nhận kết quả đo đạc thửa đất kèm theo Mành trích đo địa chính số 206-2004 ngày 26-7-2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đắk Glong đã xác định toàn bộ diện tích đất tranh chấp là: 1.872.7m² nằm hoàn toàn trong phần diện tích đất của ông Nguyễn Thế Yên theo GCN QSDĐ số CI 2622569. Do đó, HĐXX xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm người kháng cáo không cung cấp thêm tình tiết mới cho nội dung kháng cáo nên HĐXX không có căn cứ chấp nhận.
Đối với tài sản trên đất gồm: 09 cây cà phê loại A; 28 cây bơ 034 loại A; 01 cây vú sữa trồng năm 2021; 02 cây sầu riêng trồng năm 2022 do bị đơn trồng. Tại biên bản thỏa thuận giá ngày 14-6-2024 nguyên đơn và bị đơn xác định giá trị tài sản trên đất tranh chấp do bị đơn xác lập có giá trị là 11.790.000đồng. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn và buộc bị đơn phải trả lại diện tích đất lấn chiếm, buộc bị đơn phải di dời toàn bộ cây trồng trên đất. HĐXX phúc thẩm xét thấy: Tài sản là cây trồng gắn liền với đất nên việc di rời sẽ ảnh hưởng đến đến giá trị các tài sản. Sau khi phân tích, nguyên đơn đồng ý thanh toán giá trị cây trồng trên đất tranh chấp là 11.790.000 đồng cho bị đơn để nguyên đơn được quản lý, sử dụng khai thác tài sản trên đất tranh chấp. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST, ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Đắk Glong về phần tài sản trên đất cụ thể: Nguyên đơn phải trả cho bị đơn 11.790.000 đồng và giao toàn bộ tài sản trên đất tranh chấp cho nguyên đơn quản lý, sử dụng,
sở hữu gồm: 09 cây cà phê loại A; 28 cây bơ 034 loại A; 01 cây vú sữa trồng năm 2021; 02 cây sầu riêng trồng năm 2022.
[3]. Một số sai sót của cấp sơ thẩm: Đối với những người đã chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Thế Yên, Bùi Văn Phụng gồm: Ông Nguyễn Văn Dũng chị Phạm Thị Ánh Nga, ông Đoàn Thanh Hải, cấp sơ thẩm xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chưa chính xác theo quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Cần xác định lại tư cách tham gia tố tụng của ông Nguyễn Văn Dũng chị Phạm Thị Ánh Nga, ông Đoàn Thanh Hải là những người làm chứng trong vụ án. Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong cần rút khinh nghiệm.
[4]. Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
[5]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
[6]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Bùi Văn Phụng, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST, ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế Yên đối với ông Bùi Văn Phụng. Buộc ông Bùi Văn Phụng phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 1872,4m² (theo sơ đồ đo đạc ngày 01-7-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Đắk Glong), đất toạ lạc tại bon B'Dơng, xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông; có tứ cận: Phía Nam là góc nhọn của phần đất trông chấp; phía Bắc giáp đường thuỷ điện; phía Đông giáp đất ông Yên đang quản lý, sử dụng; phía Tây giáp đất ông Phụng đang quản lý, sử dụng.
1.2. Buộc ông Nguyễn Thế Yên phải trả cho ông Bùi Văn Phụng 11.790.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng).
Giao cây trồng trên đất gồm 09 cây cà phê; 28 cây bơ 034; 01 cây vú sữa; 02 cây sầu riêng cho ông Nguyễn Thế Yên được quyền quản lý, sử dụng, sở hữu.
Áp dụng khoản 2 Điều 468; Điều 357 của Bộ luật Dân sự để tính lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm thi hành án cho đến khi thi hành xong.
1.3. Về án phí:
Buộc ông Bùi Văn Phụng phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Glong.
Buộc ông Nguyễn Thế Yên phải 589.500 đồng (Năm trăm tám mươi chín nghìn năm trăm đồng) nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Glong.
Ông Bùi Văn Phụng không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008656 ngày 06-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
3. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Nơi nhận: - TAND cấp cao TP HCM; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - TAND huyện Đăk Glong; - Chi cục THADS huyện Đăk Glong; - Các đương sự; - Lưu: THCTP, Tòa DS, HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Hải Âu |
Bản án số 38/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 38/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
