Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày 28-02-2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Thanh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.

Ông Lương Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Huỳnh Tuấn K, sinh năm 1993 tại tỉnh An Giang; địa chỉ thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; chỗ ở trước khi bị bắt: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Minh D, sinh năm 1968; tiền án, tiền sự: Không; ngày 23/7/2024, bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Minh T, sinh năm 1994, tại tỉnh An Giang; địa chỉ thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ Phạm Văn Ú, tổ H, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1973; có vợ tên Mai Thị Thùy T1, sinh năm 1998 và 01 con sinh năm 2015; tiền án: Ngày 13/6/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương xử phạt số tiền 20.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2019/HSST; tiền sự: Không; ngày 01/8/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Tuấn K, Nguyễn Minh T là bạn bè với nhau và đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy đá (loại Methamphetamine).

Khoảng 10 giờ ngày 22/7/2024, K có nhu cầu sử dụng ma tuý đá nên đã sử dụng điện thoại di động Iphone màu đen gắn sim số 0963279937 gọi điện thoại rủ T đến phòng số 301, Khách sạn H, thuộc khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương do K thuê để sử dụng ma tuý thì T đồng ý. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T đến Khách sạn H gặp K. Tại đây, T sử dụng điện thoại di động Iphone màu đỏ gắn sim số 0977139138 gọi điện thoại cho đối tượng tên D1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực chợ B thuộc thành phố T, tỉnh Bình Dương hỏi mua 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) ma tuý đá và 01 (một) nỏ thuỷ tinh để sử dụng ma tuý, hẹn đem đến trước Khách sạn H thì đối tượng tên D1 đồng ý. Khoảng 30 phút sau, đối tượng tên D1 đem 01 (một) túi nylon chứa ma tuý và 01 (một) nỏ thuỷ tinh được gắn sẵn trên nắp nhựa đến trước Khách sạn H đưa cho T và lấy số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi nhận được ma tuý, T đem cất giấu vào trong hộp nhựa để trên bàn và lấy chai nước suối chế tạo thành dụng cụ sử dụng ma tuý cất giấu dưới gầm giường trong phòng số 301 và chỉ chỗ cất giấu cho K biết. Đến 09 giờ 30 phút ngày 23/7/2024, khi K và T đang ở trong phòng số 301 thì bị lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy phối hợp với Công an phường T kiểm tra hành chính, phát hiện dưới gầm giường có 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, trên bàn có 01 (một) hộp nhựa bên trong chứa 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, gắn sim thuê bao số 0963279937 của Huỳnh Tuấn K; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đỏ, gắn sim thuê bao số 0977139138 của Nguyễn Minh T.

Quá trình điều tra, Huỳnh Tuấn K, Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Theo Bản Kết luận giám định số 3543/KL-KTHS(MT) ngày 30/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bị thu giữ gửi giám định là ma túy có trọng lượng là M=0,1079 gam loại Methamphetamine.

Kết quả kiểm tra điện thoại thu giữ của Huỳnh Tuấn K và Nguyễn Minh T: Danh sách cuộc gọi đi và đến đều đã bị xóa. Nguyễn Minh T khai: Sau khi hỏi D1 mua ma túy thì đối tượng tên D1 yêu cầu Nguyễn Minh T xóa số điện thoại, Nguyễn Minh T cũng không nhớ số điện thoại của đối tượng tên D1.

Bị cáo Huỳnh Tuấn K và Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, nội dung bản Cáo trạng số 35/CT-VKSBC ngày 15/01/2025 và Kết luận giám định số 3543/KL-KTHS(MT) ngày 30/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKSBC ngày 15/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Huỳnh Tuấn K và Nguyễn Minh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Tuấn K và Nguyễn Minh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn K từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đỏ (máy có 02 camera, bị vỡ phần ốp của camera, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu đen (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được). Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) Bì thư niêm phong ghi số 3543/PC09 có chữ ký của Nguyễn Minh T (người chứng kiến), chữ ký của Đinh Công T2 (cán bộ nhận mẫu), chữ ký của Nguyễn Hoàng N1 (cán bộ giao mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 (một) sim số 0977139138 (không kiểm tra được số seri); 01 (một) sim số 0963279937 (không kiểm tra được số seri) và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy

Tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên toà, các bị cáo Huỳnh Tuấn K và Nguyễn Minh T đã thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung truy tố tại Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ thu giữ trong vụ án, biên bản kiểm tra hành chính, biên bản khám xét, biên bản thu giữ vật chứng. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 23/7/2024, tại phòng số 301, Khách sạn H, thuộc khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, lực lượng Công an tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ 0,1079 gam ma túy loại Methamphetamine của Huỳnh Tuấn K và Nguyễn Minh T mua của đối tượng tên D1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhằm mục đích để sử dụng.

Với hành vi tàng trữ trái phép 0,1079 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Huỳnh Tuấn K và Nguyễn Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKSBC ngày 15/01/2025 đã truy tố đối với các bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà các bị cáo đã gây ra.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Việc mua, tàng trữ, sử dụng trái phép, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội như: Trộm cắp, cướp giật, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm căn bệnh HIV/AIDS qua con đường tiêm chích ma túy. Loại ma túy mà các bị cáo tàng trữ là Methamphetamine, đây là loại độc dược gây nghiện, có nhiều tác hại cho sức khỏe con người. Hiện nay, tệ nạn hút chích ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước không ngừng tuyên truyền giáo dục và vận động toàn xã hội ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy thì vẫn còn những người vì mục đích tư lợi đã lén lút họat động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • Bị cáo Huỳnh Tuấn K: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Bị cáo Nguyễn Minh T: Ngày 13/6/2019, bị cáo T bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương xử phạt số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) về tội: “Đánh bạc” theo Bản án số 86/2019/HSST, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt nhưng ngày 23/7/2024 bị cáo T tiếp tục phạm tội. Do đó, bị cáo T vi phạm tình tiết “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo thuộc trường hợp được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo T hiện đang bị bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin tuýp 2 (E11) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xét tính chất và mức độ phạm tội: Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Bị cáo K là người khởi xướng rủ rê bị cáo T mua ma túy về với mục đích sử dụng. Bị cáo T tích cực tham gia, tự liên hệ với người bán ma túy, dung tiền của bản thân mua ma túy và trực tiếp lấy ma túy.

Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo Huỳnh Tuấn K và Nguyễn Minh T là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

[4] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) Bì thư niêm phong ghi số 3543/PC09 có chữ ký của Nguyễn Minh T (người chứng kiến), chữ ký của Đinh Công T2 (cán bộ nhận mẫu), chữ ký của Nguyễn Hoàng N1 (cán bộ giao mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh B: Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị, không sử dụng được. Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu, tiêu hủy

Đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đỏ (máy có 02 camera, bị vỡ phần ốp của camera, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu đen (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được): Đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) sim số 0977139138 (không kiểm tra được số seri) và 01 (một) sim số 0963279937 (không kiểm tra được số seri): Đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu, tiêu hủy.

[5] Đối với đối tượng tên D1 (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho các bị cáo Huỳnh Tuấn K, Nguyễn Minh T: Hiện Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố B đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi xác định được sẽ xử lý sau.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, Điều 260, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tuấn K và bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2024.

    2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đỏ (máy có 02 camera, bị vỡ phần ốp của camera, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu đen (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).

    Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) Bì thư niêm phong ghi số 3543/PC09 có chữ ký của Nguyễn Minh T (người chứng kiến), chữ ký của Đinh Công T2 (cán bộ nhận mẫu), chữ ký của Nguyễn Hoàng N1 (cán bộ giao mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 (một) sim số 0977139138 (không kiểm tra được số seri); 01 (một) sim số 0963279937 (không kiểm tra được số seri) và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy

    (Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân thành phố Bến Cát)

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Huỳnh Tuấn K và bị cáo Nguyễn Minh T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Bình Dương(PV06);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Thị Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger