Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày: 28-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Huỳnh Thị Hồng Thắm

Bà Huỳnh Thị Thùy Dương

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hải Dương – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 và 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 286/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lăng Thành T, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1997 tại tỉnh Gia Lai. Nơi thường trú: Thôn H, xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông; nơi tạm trú: Nhà trọ U, Tổ B, Khu phố A, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Căn cước công dân số: [...]; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lăng Văn D và bà Hà Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1994 (chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn T2, sinh năm 1969 (cha ruột bị hại); bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1970 (mẹ ruột bị hại); cùng nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; chị Trần Thị Ngọc H, sinh năm 2003 (vợ bị hại); nơi cư trú: Tổ G, Khu phố X, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Đàm Văn Q, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông; có mặt.
  2. Chị Trần Thị Ngọc H, sinh năm 2003; nơi cư trú: Tổ G, Khu phố X, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lăng Thành T có Giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh K cấp ngày 18/01/2016. Anh Nguyễn Ngọc T1 có Giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/5/2015.

Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 07/12/2023, Lăng Thành T điều khiển xe môtô hiệu Honda Vario, biển số 48D1-358.55 chở anh Đàm Văn Q đi trên đường D theo hướng từ giao lộ đường D và đường N về hướng giao lộ đường D và đường N; khi đến giao lộ đường D và đường N, thuộc Khu phố D, phường H, thành phố T do T không làm chủ tốc độ và không nhường đường cho xe đi đến từ bên phải, nên đã để mặt bên phải phần phía trước xe biển số 48D1-358.55 va chạm với mặt bên trái phần phía trước xe môtô Honda Vision, biển số 93E1-361.04 do anh Nguyễn Ngọc T1 điều khiển lưu thông trên đường N theo hướng từ giao lộ đường N và đường D về hướng giao lộ đường N2 và đường số F, dẫn đến anh T1 chết tại hiện trường, T và anh Q bị thương, 02 xe môtô bị hư, hỏng.

Tại Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 07/12/2023 của Cơ quan điều tra Công an thành phố T thể hiện:

Hiện trường là giao lộ đường D4A và đường N, đoạn qua Khu phố D, phường H, thành phố T được trải nhựa bằng phẳng, không bị che khuất tầm nhìn, không có hệ thống đèn tín hiệu giao thông. Đoạn đường D4A là đường nhựa, mặt đường bằng phẳng, không bị che khuất tầm nhìn, chiều rộng mặt đường là 7,5m. Đường không có phân chia phần đường, làn đường. Đoạn đường N2 là đường nhựa, mặt đường bằng phẳng, thẳng, không bị che khuất tầm nhìn, chiều rộng mặt đường là 7,5m, đoạn đường không có phân chia phần đường và làn đường xe chạy. Giao lộ này là nơi giao nhau giữa 2 đường đồng cấp.

Chọn Trụ điện số 29 nằm trên hành lang đường bộ bên phải đường N2 (theo hướng từ giao lộ đường N2 và đường D đi giao lộ đường N và đường số F) làm điểm mốc. Chọn mép lề trái đường D4A (theo hướng từ giao lộ đường D4A và đường N đi giao lộ đường D và đường N) làm mép lề chuẩn 1. Chọn mép lề phải đường N2 (theo hướng từ giao lộ đường N2 và đường D đi giao lộ đường N và đường số F) làm mép lề chuẩn 2.

Sau khi xảy ra tai nạn hiện trường để lại dấu vết sau: Vị trí số 1: Tử thi Nguyễn Ngọc T1 nằm trên hành lang đường bộ bên trái đường D4A. Tư thế, dáng điệu của tử thi nằm ngửa, hai tay giang ngang, 2 chân duỗi thẳng, đầu tử thi cách mép lề chuẩn 01 là 2,4m và cách điểm mốc là 13,7 m. Chân tử thi cách mép lề chuẩn 1 là 01m. Vị trí số 2: Máu của tử thi Nguyễn Ngọc T1 nằm trên hành lang đường bộ bên trái đường D4A,

có kích thước 0,4m x 1,9m. T3 vị trí máu cách đầu tử thi Nguyễn Ngọc T1 là 0,9m và cách mép lề chuẩn 01 là 1,6m. Vị trí số 3: Xe môtô biển số 93E1 361.04 nằm ngã sang bên trái của xe và nằm trên đường D. T3 trục bánh trước của xe cách mép lề chuẩn 01 là 1,5m và cách mép lề chuẩn 02 là 10,3m. T3 trục bánh sau cách mép lề chuẩn 01 là 0,5m và cách đầu tử thi Nguyễn Ngọc T1 là 2,7m. Vị trí số 4: Vết cày xe môtô biển số 93E1-361.04 có chiều dài 10,4m, vết cày không liên tục. Điểm đầu vết cày cách mép lề chuẩn 01 là 2,6m và cách mép lề chuẩn 2 là 0,6m. Điểm cuối vết cày trùng với vị trí xe môtô. Vị trí số 5: Xe môtô biển số 48D1-358.55 nằm ngã sang bên phải của xe và nằm tại góc giao lộ đường D và đường N. T3 trục bánh trước của xe cách mép lề chuẩn 01 là 1,9m, cách mép lề chuẩn 02 là 3,7m và cách tâm trục bánh trước xe môtô tại vị trí số 03 là 7,4m. T3 trục bánh sau của xe cách mép lề chuẩn 01 là 2,9m. Vị trí số 6: Vết cày xe môtô biển số 48D1-358.55 có chiều dài 7,2m. Điểm đầu vết cày cách mép lề chuẩn 01 là 1,5m, cách mép lề chuẩn 02 là 2,5m và cách điểm đầu vết cày tại vị trí số 04 là 1,8m. Điểm cuối vết cày trùng với vị trí xe môtô.

Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông được lập ngày 08/12/2023 của Cơ quan điều tra Công an thành phố T xác định:

Xe môtô biển số 48D1-358.55: Mép trước thắng trước (bên phải) bị mài mòn kim loại do tiếp xúc với mặt đường. Hộp dầu thắng trước bị trầy xước mài mòn kim loại do tiếp xúc với mặt đường theo hướng từ trên xuống dưới, từ sau về trước. Mặt nạ xe bị bong khớp nối. Đèn xi nhan trước bên phải bị vỡ do va chạm, trên có dính sơn màu đỏ, cao 74cm. Mép ngoài chắn gió bên phải bị mài mòn cao su do tiếp xúc với mặt đường theo chiều từ sau về trước. Bửng chắn gió bên trái bị vỡ và bong khớp nối do va chạm. Tay cầm bên phải bị trầy xước do tiếp xúc với mặt đường. Ốp nhựa dưới để chân trước bên phải bị vỡ và rơi mất. Gác chân sau bên phải bị gập xuống do tiếp xúc với mặt đường. Bánh trước bị vênh sang bên trái do va chạm. Niềng bánh trước bị trầy xước và cong vào tâm trục do va chạm, trên có dính sơn màu đỏ. Phần bên phải vè trước bị trầy xước mũ cao su theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, trên có dính sơn màu đỏ, cao 50cm. Phuộc trước bên phải có dính sơn màu đỏ cao 30cm. Lốp trước bên phải (ngay tại vị trí niềng xe bị cong vào tâm trục) bị trầy xước và thủng do va chạm. Ốp nhựa phuộc trước bên phải có dấu trượt xước mũ cao su do va chạm, trên có sơn màu đỏ bám dính, cao 55cm. Ốp nhựa ngay tại vị trí gác chân sau bên phải bị vỡ và rơi mất. Ốp ống xả khí bị rơi mất. Bát giữ ốp ống xả khí bị mài mòn kim loại do tiếp xúc với mặt đường. Ốp nhựa thân xe bên phải bị mài mòn cao su do tiếp xúc với mặt đường. Đèn xi nhan sau bên trái bị gãy. Xe bị hư hỏng.

Xe môtô biển số 93E1-361.04: Ốp nhựa đèn chiếu sáng trước bị bong khớp nối, phần bên trái có dấu mài mòn cao su. Chân gương chiếu hậu bên trái bị mài mòn kim loại do tiếp xúc với mặt đường. Tay lái trước bên trái bị mài mòn do tiếp xúc với mặt đường. Mặt nạ trước bị vỡ hoàn toàn do va chạm. Đèn xi nhan trước bên trái bị vỡ và rơi mất. Vè chắn bùn trước có dấu trầy xước do va chạm và sơn màu xanh đen bám dính, cao 55cm. Mép tay thắng bên trái bị mài mòn kim loại do tiếp xúc với mặt đường. Mặt ngoài phuộc trước bên trái có dấu trầy xước sơn do va chạm, trên có dính tạp chất màu đen (dạng cao su lốp xe), cao 27cm. Bửng trước bên trái bị vỡ và rơi mất do va chạm. Ốp nhựa dưới để chân trước bên trái bị vỡ và rơi mất. Ốp nhựa thân xe bên trái bị bong khớp nối và có dấu trầy xước sơn. Gác chân sau bên trái bị mài mòn kim loại do tiếp xúc với mặt đường. Mặt ngoài ốp nhựa lọc gió bị trầy xước. Tay cầm sau bên trái bị mài mòn cao su. Xe bị hư hỏng.

Tại Kết luận giám định số 465/KL-KTHS(CH) ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

  1. Dấu vết va chạm giữa xe môtô hai bánh biển số 93E1-361.04 và xe môtô hai bánh biển số 48D1-358.55: Các dấu vết trượt xước, vỡ, bám dính chất màu xanh (dạng nhựa) ở ốp nhựa mặt nạ, ốp nhựa đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu rẽ trái trước, bửng, và chắn bùn bánh trước, bệ để chân bên trái xe môtô hai bánh biển số 93E1-361.04 có chiều từ trước về sau, từ trái qua phải phù hợp với các dấu vết trượt xước, vỡ, bám dính chất màu đỏ (dạng nhựa) ở bên phải ốp nhựa mặt nạ, bửng, vè chắn bùn bánh trước xe môtô hai bánh biển số 48D1-358.55 có chiều từ phải qua trái, từ sau về trước. Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở đầu trục trái bánh trước xe môtô hai bánh biển số 93E1-361.04 có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, rách, cong biến dạng ở mặt lăn, cạnh phải lốp, niềng bánh trước xe môtô hai bánh biển số 48D1-358.55 có chiều từ mặt lăn vào trục.
  2. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa trên xe môtô trên là: Mặt bên trái phần phía trước xe môtô biển số 93E1-361.04 va chạm với mặt bên phải phần phía trước xe môtô biển số 48D1-358.55 làm xe môtô biển số 93E1-361.04 đổ ngã qua trái, xe môtô biển số 48D1-358.55 đổ ngã qua phải, va chạm với mặt đường tạo nên dấu vết trên các phương tiện.
  3. Vị trí va chạm giữa hai xe môtô trên mặt đường là khu vực phía trước đầu vết cày kí hiệu số trên Sơ đồ hiện trường (theo hướng từ đường N về đường N).

Tại Kết luận giám định tử thi số 975/KLGĐTT-KTHS ngày 11/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Ngọc T1 là do đa chấn thương.

Tại Kết luận giám định số 460/KL-KTHS(MT) ngày 21/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Không tìm thấy thành phần các chất ma túy trong mẫu máu của anh Nguyễn Ngọc T1.

Tại Kết luận giám định số 441/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tìm không thấy có thành phần Ethanol (C) trong mẫu máu của anh Nguyễn Ngọc T1.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Lăng Thành T của Bệnh viện Đ – CN3 kết luận: Định lượng Ethanol (Cồn) trong máu của Lăng Thành T là 0,7mg/100ml.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ma túy trong máu của Lăng Thành T của Bệnh viện Đ – CN3 kết luận: Âm tính.

Quá trình điều tra, anh Đàm Văn Q khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 06/12/2023, Lăng Thành T mượn xe biển số 48D1-358.55 của anh Q để đi công việc; khoảng 07 giờ 10 phút ngày 07/12/2023, T về chở anh Q đi làm, trên đường đi thì xảy ra va chạm giữa biển số 48D1-358.55 và xe biển số 93E1-361.04 làm anh Q bị gãy chân.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 607/2024/KLGĐ-TTPY ngày 10/9/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đàm Văn Q tại thời điểm giám định là 34%.

Về vật chứng của vụ án: Xe môtô Honda Vision, biển số 48D1-358.55 là tài sản của anh Đàm Văn Q; ngày 07/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe cho anh Q; anh Q không yêu cầu T bồi thường tiền sửa xe. Xe môtô Honda Vario, biển số 93E1-361.04 là tài sản của chị Trần Thị Ngọc H (vợ anh T1); ngày 13/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe cho chị H.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đại diện của bị hại yêu cầu Lăng Thành T bồi thường tổng cộng 290.800.000 đồng, T mới bồi thường được 10.000.000 đồng. Anh Đàm Văn Q không yêu cầu T bồi thường chi phí điều trị thương tích.

Giấy phép lái xe hạng A1 của Lăng Thành T được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

Tại Cáo trạng số 265/CT-VKS-HS ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố bị cáo Lăng Thành T để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lăng Thành T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho đại diện bị hại 280.000.000 đồng.

Tại phần tranh luận, bị cáo Lăng Thành T không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị. Ông Nguyễn T2, bà Nguyễn Thị B, chị Trần Thị Ngọc H và anh Đàm Văn Q không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Lăng Thành T không trình bày lời nói sau cùng của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lăng Thành T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản khám

nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định pháp y tử thi, kết luận giám định phương tiện và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 07/12/2023, Lăng Thành T đã có hành vi điều khiển xe môtô hiệu Honda Vario, biển số 48D1-358.55 chở anh Đàm Văn Q, khi đi đến giao lộ đường D và đường N, thuộc Khu phố D, phường H, thành phố T, T không giảm tốc độ và nhường đường cho xe môtô biển số 93E1-361.04 do anh Nguyễn Ngọc T1 điều khiển đi đến từ bên phải dẫn đến va chạm, hậu quả làm anh Nguyễn Ngọc T1 chết tại hiện trường, 02 xe môtô bị hư, hỏng; kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Lăng Thành T tại thời điểm xảy ra va chạm là 0,7mg/100ml. Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lăng Thành T để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo Lăng Thành T đã vi phạm Điều 24 của Luật Giao thông đường bộ và Điều 35 của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia. Về nhận thức, bị cáo biết việc điều khiển xe môtô khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường cho xe đi đến từ bên phải; đồng thời, việc điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn là vi phạm pháp luật, nhưng vì ý thức chấp hành pháp luật kém nên bị cáo vẫn thực hiện; do đó, nguyên nhân dẫn đến va chạm giao thông là do lỗi của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Như vậy, với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phải có mức hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần thiệt hại và cha, mẹ của bị hại đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là rất nghiêm trọng, đã làm cho bị hại chết, nên đề nghị của Viện Kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là tương xứng, đúng pháp luật. Do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, nên trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng số tiền 280.000.000 đồng, trong đó: Chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và chi phí sửa xe là 90.000.000 đồng, tiền cấp dưỡng một lần nuôi cháu Nguyễn Ngọc Minh C1 (con bị hại) là 190.000.000 đồng, số tiền này sẽ do bà Nguyễn Thị B đại diện bị hại nhận; bị cáo đã đồng ý bồi thường theo yêu cầu của đại diện bị hại, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với anh Đàm Văn Q, không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đặt ra xem xét.

[8] Về vật chứng của vụ án: Do xe đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, nên không đặt ra xử lý.

[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 260, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lăng Thành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Lăng Thành T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

  3. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ khoản 1 Điều 278 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lăng Thành T kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/02/2025) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 và Điều 593 của Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

    Buộc bị cáo Lăng Thành T bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng) do bà Nguyễn Thị B đại diện nhận.

    Kể từ ngày án có hiệu lực thi hành và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa bồi thường hoặc bồi thường không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  5. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Tuyên trả lại cho bị cáo Lăng Thành T 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh K cấp ngày 18/01/2016 cho Lăng Thành T.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 045.25 ngày 22/11/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T).

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Lăng Thành T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm về quy định tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger