Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28-02-2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Phi Hùng;

2/ Bà Vương Thị Khánh Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 2553/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Tú Q, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Tổ E, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Tổ E, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà Q, ông H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai nguyên đơn bà Huỳnh Tú Q trình bày:

Bà và ông Nguyễn Minh H tự nguyện kết hôn năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L (nay là phường T, thành phố B), tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc. Nhưng sau đó, vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, ông H thường xuyên chửi bới đánh đập bà, ông bà đã không còn yêu thương nhau. Nay xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Minh H.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Tú V, sinh ngày 11/10/2020, và Nguyễn Huỳnh Nguyệt Á, sinh ngày 04/9/2022. Khi ly hôn, bà Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu Nguyễn Huỳnh Nguyệt Á và Ngyễn Huỳnh Tú V. Không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Đảm bảo theo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết tranh chấp: Cuộc sống vợ chồng giữa bà Q và ông H phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Q; giao 02 con chung là Nguyễn Huỳnh Tú V, sinh ngày 11/10/2020, và Nguyễn Huỳnh Nguyệt Á, sinh ngày 04/9/2022 cho bà Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung bà Q khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông H vắng mặt không có ý kiến nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Bà Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án bà Huỳnh Tú Q khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với ông Nguyễn Minh H hiện đang sinh sống tại tổ E, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo mở phiên họp về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên toà cho ông H đầy đủ, tuy nhiên ông H vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Tòa án xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Q có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Q, ông H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn với nhau vào 2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L (nay là phường T, thành phố B), tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo xác minh tại địa phương, xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Q và ông H có xảy ra hay không thì địa phương không nắm được vì bà Q và ông H không trình báo hay yêu cầu giải quyết.

Theo kết quả xác minh tại phiếu yêu cầu xác minh ngày 25/11/2024, công an phường T cung cấp thông tin bà Q đã đi khỏi địa phương. Như vậy bà Q không còn chung sống với ông H, hiện ông bà đã sống ly thân. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập ông H đến Toà để làm việc, dự phiên họp về tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử vụ án để ông H được trình bày quan điểm, ý kiến của mình và để hai ông bà có điều kiện gặp gỡ thỏa thuận, đoàn tụ nhưng ông H không đến. Điều này chứng tỏ ông H bỏ mặc hôn nhân, bà Q và ông H không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà Q và ông H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 4 của Nghị quyết 01/2024 ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì đây là căn cứ để Tòa án cho ly hôn. Vì vậy, cần chấp nhận cho bà Q được ly hôn với ông H.

[4] Về con chung: Bà Q và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Tú V, sinh ngày 11/10/2020, và Nguyễn Huỳnh Nguyệt Á, sinh ngày 04/9/2022, cả hai cháu đều là nữ. Bà Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 2 con chung, tạm thời bà Q không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Ông H không đến Tòa án làm việc cũng không có bản tường trình về yêu cầu giải quyết con chung. Xét thấy cả hai cháu đều là nữ, hiện còn nhỏ cần có sự chăm sóc, quan tâm, nuôi dưỡng của mẹ, đồng thời cần tạo điều kiện, đảm bảo sự ổn định tâm lý cho sự phát triển của cháu. Do đó, cần giao cả 2 cháu V và Á cho bà Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà Q trình bày tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do ông H vắng mặt tại phiên tòa, không có lời khai nên không có cơ sở để xem xét giải quyết. Do vậy, cần tách ra để giải quyết bằng vụ án khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

[6] Về án phí: Bà Huỳnh Tú Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 207, Điều 208; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng Điều 9, Điều 51, 71, 81, 82, 83, khoản 1 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • - Nghị quyết 01/2024/HĐTP-TANDTC ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn bà Huỳnh Tú Q. Bà Huỳnh Tú Q được ly hôn với ông Nguyễn Minh H.
  2. Về con chung: Giao 02 cháu Nguyễn Huỳnh Tú V, sinh ngày 11/10/2020, và Nguyễn Huỳnh Nguyệt Á, sinh ngày 04/9/2022 cho bà Huỳnh Tú Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Không ai được ngăn cản quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung của ông Nguyễn Minh H.

    Khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Huỳnh Tú Q phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Q đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004401 ngày 25/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Q đã nộp xong án phí.
  5. Bà Huỳnh Tú Q và ông Nguyễn Minh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THA DS TP. Biên Hòa;
  • - UBND P. Tam Phước (số ĐKKH 189 ngày 06/10/2017);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhàn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Hội thẩm nhân dân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Huỳnh Tú Q yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Minh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger