Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN TÂN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU


Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày 28-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Phanh

2. Ông Vàng A Kỷ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuý Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 02/2025/HSST-QĐ ngày 17/02/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn S, sinh ngày 01/01/1989, tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn O, sinh năm 1951 và con bà: Tòng Thị D, sinh năm 1954; vợ: Lò Thị S1, sinh năm 1989; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 01/8/2024, đến ngày 09/8/2024 bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Lò Văn P, sinh ngày 15/03/1998, tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn L (đã chết) và con bà: Lò Thị P1, sinh năm 1968; vợ: Lò Thị T, sinh năm 1996; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/10/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

3. Họ và tên: Vì Thị X1, sinh ngày 01/01/1990, tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vì Văn A, sinh năm 1968 và con bà: Lù Thị T1, sinh năm 1969; chồng: Lù Văn Đ, sinh năm 1987; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/10/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

4. Họ và tên: Lò Thị H, sinh ngày 02/11/1991, tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn X (đã chết) và con bà: Hà Thị P2, sinh năm 1960; chồng: Lò Văn T2, sinh năm 1989; con: có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/10/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Công ty Cổ phần N1, địa chỉ trụ sở: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Duy V, sinh năm 1982 – chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lò Văn N, sinh năm 1989, trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người phiên dịch tiếng Thái: Ông Lò Văn T3, sinh năm 1998. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 29/7/2024, Lò Văn S đi chăn trâu trong bản Nà Phát, xã N. Khi đang chăn trâu Sam nhìn thấy tại khu vực trồng cây gỗ dổi của công ty Cổ phần N1 có để nhiều bao phân bón NPK LÀO CAI 8-8-4+7S, mỗi bao có khối lượng tịnh 25kg do công ty Cổ phần V1 sản xuất, vỏ bao có in hình bông lúa, bắp ngô không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm số phân bón này mang về bón ruộng lúa của gia đình. Sau đó S vác trộm 02 bao phân đi bộ về cất giấu tại nhà. Khi S vác trộm phân bón về đến gần nhà thì Lò Thị H; Vì Thị X1 và Lù Văn H1 (con trai X1) đều nhìn thấy. Sau đó Lù Văn H1 gặp và nói cho Lò Văn P trú cùng bản biết việc có thấy S vác phân mang về. Khi về đến nhà, S cất giấu 02 bao phân bón trộm cắp được dưới gầm nhà sàn và nói dối chị Lò Thị S1 (vợ S) là phân do S mua được.

Do biết S đã lấy trộm được phân bón mang về nhà nên từ khoảng 18 giờ cùng ngày Vì Thị X1, Lò Văn P và Lò Thị H lần lượt đến nhà gặp riêng S hỏi về việc đi lấy trộm phân và xin được đi trộm tiếp cùng S thì S đồng ý, S chỉ cho từng người vị trí lấy phân và nói nếu đi thì tối cùng đi. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, S lấy 01 đèn pin đeo đầu rồi đi bộ một mình đến vị trí có phân bón lúc trước để tiếp tục trộm cắp. Trên đường đi qua nhà H và nhà X1, S gọi “Đi thôi” rồi tiếp tục đi và không chờ ai. Thấy S gọi, H và X1 mỗi người mang theo 01 đèn pin đeo đầu rồi đi theo sau. Khi S đi qua nhà P thì P nhìn thấy S, biết S đi trộm cắp phân bón nên P lấy một chiếc đèn pin đội đầu và đi theo sau cách Sam khoảng 200 mét còn X1 và H gặp nhau trên đường đi nhưng đi phía sau P nhưng P không biết.

Do đi trước nên S đến vị trí để phân bón đầu tiên rồi vác 02 bao phân bón đi về được khoảng 500 mét thì gặp P đi đến. Thấy P đang bật đèn pin nên S bảo P tắt đèn pin đi để tránh bị người khác phát hiện, sau đó S để 02 bao phân đang vác ở lại giữa đường rồi cùng đi với P để chỉ đường cho P và vác trộm thêm các bao phân khác. Khi S và P đi đến vị trí có phân, mỗi người vác 02 bao phân rồi cùng mang đến vị trí có 02 bao phân để ở trên đường mà S đã lấy trước khi P đến. Sau khi mỗi người để 02 bao phân xuống, S và P cùng quay lại vị trí có phân được khoảng 03 phút thì H, X1 cùng đi đến. Thấy H và X1 đang bật đèn pin nên S bảo cả hai tắt đèn đi thì H và X1 cùng tắt đèn để tránh bị người khác phát hiện. Lúc này vào khoảng 20 giờ cùng ngày, khi có đủ cả 04 người đứng gần vị trí để phân bón, lúc này chỉ còn lại 16 bao phân, S nói và thống nhất với H, P và X1 số phân đó ai lấy được bao nhiêu thì lấy.

Sau đó S, P, X1 mỗi người vác 02 bao phân bón còn H vác 01 bao phân rồi cùng mang đến vị trí các bao phân mà S và P đang để dọc đường rồi cả 04 người cùng quay lại vị trí đống phân để lấy trộm tiếp. Khi quay lại S, P, X1 mỗi người vác được 02 bao, H vác được 01 bao rồi cùng nhau vác đến vị trí để phân dọc đường, mỗi người để riêng ở từng vị trí cách nhau từ 03 đến 05 mét. Lúc này S bảo P quay lại giúp H vác trộm phân, P đồng ý rồi cùng H quay lại và vác hộ cho H 02 bao phân cuối cùng mang về vị trí tập kết.

Tại vị trí tập kết phân ở giữa đường, lúc này S lấy được tổng số 08 bao, P được 06 bao, H và X1 mỗi người được 04 bao. Từ vị trí này, cả 04 người tiếp tục cùng nhau vác các bao phân mang đến đoạn giữa dốc trên đường đi và đặt tại đây để nghỉ ngơi (phân của ai người đó tự vác). Quá trình vác phân, P có giúp nâng lên vai cho H 02 bao phân. Sau đó cả 4 người lại tiếp tục vác các bao phân di chuyển từ dốc đến khe suối Huổi Hiền rồi đặt các bao phân tại đây, phân của ai người đó tự để riêng, cách nhau vài mét. Tại đây, mỗi người vác 02 bao phân của mình mang về nhà trước, các bao phân còn lại thì tự cất giấu gần suối để hôm sau lên vác tiếp. Tại đây Phóng có giúp nâng hộ Xôm 02 bao phân lên vai, đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì S, P, H, X1 mang các bao phân về đến nhà của mình cất giấu.

Đến sáng và chiều ngày 30/7/2024, S, P, H, X1 đi lên khe suối vác các bao phân còn lại mang về, trong đó S vác 06 bao, P vác 04 bao, H và X1 mỗi người vác 02 bao mang về nhà cất giấu. Khi vác các bao phân mang về giấu ở gầm nhà sàn, S nói dối vợ tên Lò Thị S1 là phân do S mua được mang về bón ruộng, những người còn lại đều không nói cho gia đình biết việc bản thân trộm cắp phân. Sau đó S và S1 vác 04 bao phân lên nhà sàn cất, còn 06 bao vẫn để ở gầm nhà sàn.

Ngày 29/7/2024 đại diện công ty cổ phần N1 phát hiện bị mất trộm phân bón nên đã trình báo với cơ quan điều tra và đề nghị giải quyết. Đến ngày 31/7/2024, cơ quan điều tra Công an huyện T phát hiện tại gầm nhà sàn của Lò Văn S có cất giấu 06 bao phân mà S đã trộm cắp được. Tại chỗ S khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bản thân. Căn cứ lời khai của S, cơ quan điều tra đã triệu tập Lò Văn P, Lò Thị H, Vì Thị X1 để làm việc, H, X1, P đã thừa nhận hành vi trộm cắp của bản thân và tự nguyện giao nộp số phân bón trộm cắp được cùng Lò Văn S. Đến ngày 01/8/2024, Lò Văn S khai nhận và giao nộp thêm 04 bao phân bón do Sam cất giấu trên nhà sàn. Tổng số phân bón S, P, H, X1 thực hiện hành vi trộm cắp là 24 bao phân và thu giữ của mỗi người 01 chiếc đèn pin đội đầu đã sử dụng khi đi trộm phân bón.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HDĐGTS, ngày 07/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, tỉnh Lai Châu kết luận: 24 bao phân bón NPK LÀO CAI 8-8-4+7S, mỗi bao có khối lượng tịnh là 25 kg, do công ty V1 sản xuất còn nguyên niêm phong, chưa qua sử dụng (Tổng trọng lượng 600 kg, đơn giá 8.000 đồng/kg, giá 200.000 đồng/ 01 bao) có trị giá 4.800.000 đồng.

Cáo trạng số 05/CT-VKS-TU ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố Lò Văn S, Lò Văn P, Vì Thị X1, Lò Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn S mức án từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ; Xử phạt bị cáo Lò Văn P mức án từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ; Xử phạt các bị cáo Vì Thị X1, Lò Thị H mỗi bị cáo mức án từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo và buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 04 chiếc đèn pin đội đầu đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty Cổ phần N1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.

Bị hại Công ty Cổ phần N1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Lò Văn S, Lò Văn P, Lò Thị H và Vì Thị X1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, HĐXX đủ cơ sở để kết luận:

Lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, trong khoảng thời gian từ 20 giờ đến 22 giờ ngày 29/7/2024, Lò Văn S, Lò Văn P, Lò Thị H và Vì Thị X1 đã cùng nhau trộm cắp chiếm đoạt 16 bao phân bón NPK LÀO CAI 8-8-4+7S do công ty V1 sản xuất, mỗi bao có khối lượng tịnh là 25 kg có tổng trị giá là 3.200.000 đồng của công ty cổ phần N1, mục đích mang về sử dụng.

Ngoài ra, trước đó (cùng ngày 29/7/2024), Lò Văn S đã một mình thực hiện hành vi trộm cắp 04 bao phân bón, sau đó Lò Văn S và Lò Văn P tiếp tục cùng nhau trộm cắp 04 bao phân cùng loại như trên. Do vậy, Lò Văn S phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số 24 bao phân có trị giá 4.800.000 đồng. Lò Văn P phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số 20 bao phân có trị giá 4.000.000 đồng. Các bị cáo Lò Thị H và Vì Thị X1 mỗi người phải chịu trách nhiệm hình sự với 16 bao phân có trị giá 3.200.000 đồng do H, X1 đều là đồng phạm cùng thực hiện hành vi trộm cắp với S và P.

Các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm tài sản của người khác nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo S, X1, H, P đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lò Văn S có ông nội là Lò Văn C và bố đẻ là ông Lò Văn O đều có công với Nhà nước và đều được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo S được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể. Bị cáo Lò Văn S là người thực hiện hành vi trộm cắp đầu tiên, sau đó khi được các bị cáo khác hỏi xin đi trộm phân cùng thì S đồng ý và chỉ cho các bị cáo khác nơi để trộm cắp tài sản và cùng thực hiện trộm cắp tài sản nên Lò Văn S giữ vai trò chính. Các bị cáo Lò Thị H, Vì Thị X1, Lò Văn P cùng Lò Văn S cùng thực hiện hành vi trộm cắp và đều giữ vai trò người thực hành tích cực nên đều phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội của mình theo quy định tại Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, trước khi phạm tội đều chấp hành tốt quy định của pháp luật và của địa phương nơi cư trú, các bị cáo có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo được nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được cải tạo không giam giữ cũng đã đảm bảo cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và công tác giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo đều khó khăn, các bị cáo đều làm ruộng, nguồn thu nhập thấp và không ổn định nên Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Bị hại Công ty Cổ phần N1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Đối với 04 chiếc đèn pin đội đầu thu giữ của các bị cáo là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về các vấn đề liên quan đến vụ án:

Đối với Lò Thị S1 là vợ của Lò Văn S có biết S vác các bao phân mang về nhà. Quá trình điều tra xác định S1 không biết S đã trộm cắp phân bón do S nói dối là mua được, vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không xem xét xử lý đối với Lò Thị S1 là đúng quy định.

Đối với cháu Lù Văn H1 là con Vì Thị X1 có nhìn thấy S vác bao phân mang về, quá trình điều tra xác định H1 không biết S trộm cắp phân bón, vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không xem xét xử lý đối với Lù Văn H1 là đúng quy định.

Đối với công ty cổ phần N1 bị mất trộm tổng số 44 bao phân bón, đến nay đã tìm được 7 bao; S, H, X1 và P trộm tổng số 24 bao đã bị thu giữ và trả lại công ty, còn lại 13 bao chưa tìm được và chưa xác định được đối tượng trộm cắp, vì vậy kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Lò Văn S, Lò Văn P, Lò Thị H, Vì Thị X1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".

- Xử phạt bị cáo Lò Văn S 18 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 01/8/2024 đến ngày 09/8/2024), quy đổi ra thời gian 27 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 17 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt bị cáo Lò Văn P 14 tháng cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt bị cáo Lò Thị H 10 tháng cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt bị cáo Vì Thị X1 10 tháng cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo Lò Văn S, Lò Văn P, Lò Thị H, Vì Thị X1 được tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao các bị cáo Lò Văn S, Lò Văn P, Lò Thị H, Vì Thị X1 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp người chấp hành án đi khỏi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Miễn khấu trừ thu nhập và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Lò Văn S, Lò Văn P, Lò Thị H, Vì Thị X1. Trường hợp các bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy: 01 đèn pin điện, loại đèn pin đội đầu, vỏ bằng nhựa màu đen, dây đeo bằng vải màu xanh đen, trên vỏ đèn có chữ “Thiết bị điện G8”, đã qua sử dụng thu giữ của Vì Thị Xôm; 01 đèn pin điện, loại đèn pin đội đầu, vỏ bằng nhựa màu đen, viền kính đèn pin màu vàng đồng, có dây đeo bằng vải màu đen, trên vỏ đèn có chữ “Thiết bị điện G8”, đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn S; 01 đèn pin điện, loại đèn pin đội đầu, vỏ bằng nhựa màu xanh, nâu, dây đeo bằng vải màu xanh đen, trên đèn in chữ “Yến Quân”, đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn P; 01 đèn pin điện, loại đèn pin đội đầu, vỏ bằng nhựa màu xanh đen, đã qua sử dụng thu giữ của Lò Thị H;

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 30 phút, ngày 08/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Lò Văn S, Lò Văn P, Lò Thị H, Vì Thị X1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết../.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tân Uyên;
  • - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên;
  • - CQTHAHS Công an huyện Tân Uyên;
  • - CQCSĐT Công an huyện Tân Uyên;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo trộm cắp tài sản theo khoản 1 ĐIều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger