Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày 28-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Khánh

Bà Cao Thị Hải An - Nghề nghiệp Giáo viên

– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: bà Trương Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Huy H - Sinh ngày 20/7/1997 tại huyện D, tỉnh Nghệ An.

Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Cao Huy D, sinh năm 1974 và bà Vũ Thị T, sinh năm: 1975; Vợ: Trần Thị N, sinh năm 2001; con: 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền sự, tiền án: không.

Nhân thân: Ngày 24/12/2012, bị Công an huyện D xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích; Ngày 20/5/2013, bị Công an huyện D xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng, hình thức: cảnh cáo.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/10/2024 đến ngày 03/11/2024 hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/11/2024 cho đến nay. Có mặt

Bị hại:

  • + Cháu Phan Văn D1, sinh ngày 09/9/2010; Nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

Người đại diện theo pháp luật: chị Trần Thị N1 ( mẹ) và bà Cao Thị S (bà

  • ngoại); Nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
  • + Cháu Phạm Hoàng H1, sinh ngày 25/10/2010; nơi cư trú: xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

Người đại diện theo pháp luật: Chị Phạm Thị H2 (mẹ) và ông Phạm Văn Y (ông ngoại); nơi cư trú: xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Cháu Đậu Trọng N2, sinh ngày 08/8/2010; Nơi cư trú: xóm Y, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt

Người đại diện theo pháp luật: bà Cao Thị T1, sinh năm 1973; Nơi cư trú: xóm Y, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt

  • + Cháu Đặng Thọ M, sinh ngày 06/3/2009; Nơi cư trú: xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt

Người đại diện theo pháp luật: anh Đặng Thọ H3; Nơi cư trú: xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

  • + Cháu Cao Huy N3, sinh ngày 07/4/2007; Nơi cư trú: xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

Người đại diện theo pháp luật: bà Vũ Thị T; Nơi cư trú: xóm A, thị D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

  • + Anh Lê Văn T2, sinh năm 1991; Nơi cư trú: xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

- Người làm chứng:

  • + Cháu Phạm Văn T3, sinh ngày 18/01/2008; Nơi cư trú: xóm N, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

Người đại diện theo pháp luật: chị Trần Thị H4; Nơi cư trú: xóm N, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

  • + Cháu Nguyễn Ngọc T4, sinh ngày 04/10/2007; Nơi cư trú: xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

Người đại diện theo pháp luật: anh Nguyễn Ngọc C; Nơi cư trú: xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

  • + Cháu Nguyễn Hữu P, sinh ngày 06/02/2010; Nơi cư trú: xóm Đ, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

Người đại diện theo pháp luật: anh Nguyễn Xuân Q; Nơi cư trú: xóm Đ, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

  • + Cháu Đặng Hoàng A, sinh ngày 15/7/2006; Nơi cư trú: xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

Người đại diện theo pháp luật: chị Nguyễn Thị K; Nơi cư trú: xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

  • + Cháu Nguyễn Ngọc K1, sinh ngày 01/5/2008; Nơi cư trú: xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

Người đại diện theo pháp luật: anh Nguyễn Ngọc C1; Nơi cư trú: xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

  • + Cháu Đặng Văn H5, sinh ngày 21/4/2009; Nơi cư trú: xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

Người đại diện theo pháp luật: chị Ngô Thị H6; Nơi cư trú: xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 24/10/2024, Phạm Hoàng H1, sinh năm 2010, trú tại thôn X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Đậu Trọng N2, sinh năm 2010, trú tại xóm Y, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An và Phan Văn D1, sinh năm 2010, trú tại xóm T, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An đi chơi tại thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An, lấy trộm của Cao Huy H 01 (một) đôi dép tông màu đen. Sau đó, do sợ bị phát hiện nên N2, D1 và H1 đem trả đôi dép lại, để trước cổng nhà H.

Chiều ngày 24/10/2024, Cao Huy H gửi đoạn video cho em trai là Cao Huy N3, sinh năm 2007, trú tại xóm A, thị trấn D, huyện D nhờ tìm thông tin các đối tượng đã trộm dép của mình. Khoảng 21 giờ cùng ngày, H gọi điện thoại hỏi N3 đã tìm được các đối tượng lấy trộm dép chưa thì N3 nói: “Biết nhà mấy đứa ăn trộm rồi”, H nói tiếp “Vậy dẫn anh qua nhà nó luôn” và hẹn gặp nhau tại cầu T trên đường Q, thuộc xã N, huyện D. Sau đó, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH, màu trắng đen, biển kiểm soát 37M1-816.88 đi từ xóm F, thị trấn D, huyện D đến nơi hẹn. Khi đi qua cổng chào xóm A, thị trấn D, huyện D, H gặp Đặng Thọ M, sinh năm 2009 và nhóm bạn gồm: Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 2007; Đặng Hoàng A, sinh năm 2006; Đặng Văn H5, sinh năm 2009; Nguyễn Ngọc K1, sinh năm 2008, cùng trú tại xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An và Nguyễn Hữu P, sinh năm 2010, trú tại xóm Đ, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An. H hỏi “M đi tìm mấy thằng trộm dép với anh không?” thì M đồng ý và lên xe H ngồi; nhóm bạn M cũng xin đi cùng. Cả nhóm đi đến cầu T thì gặp Cao Huy N3 đi xe máy điện chở Phạm Văn T3, sinh năm 2008, trú tại xóm N, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An (bạn N3). T3 chỉ đường cho H đi đến nhà Phạm Hoàng H1 nhưng H1 không ở nhà. T3 không biết nhà của D1 nên H tìm đến nhà bà Cao Thị S, thuộc xóm T, xã N, huyện D để tìm D1, H1. Tại đây, H nói với bà S: “Cháu bà lấy trộm dép tôi, gọi nó xuống đây nói chuyện, tôi không đánh đâu” thì bà S gọi D1 và H1 xuống sân. H hỏi: “Tại răng bay nhỏ tuổi mà ăn trộm vặt

rứa” thì D1 và H1 đều nói: “Không phải bọn em lấy mà thằng N2 xúi bọn em lấy”. H tức giận dùng tay phải tút dép tông đang đi ở chân phải lên đánh vào mặt của D1 và H1 mỗi người 02 (hai) phát, và hỏi tiếp: “Thằng thứ ba đâu”, D1 nói: “Nó đang ở nhà của nó”. Thấy thế, bà S xin H không đánh D1 và H1 nữa, còn ông ngoại D1 là Trần Văn L, sinh năm 1964, trú tại xóm T, xã N, huyện D ở trong nhà cầm 01 (một) chiếc dao mác dài khoảng 30cm chạy ra ngăn không cho H tiếp tục đánh D1 và H1. Lúc này, H chưa thấy thỏa mãn sự bực tức và muốn đưa D1, H1 đến nhà N2 để tiếp tục đe dọa nên nói tiếp “Lên xe anh chở đến nhà thằng thứ ba” nhưng D1 và H1 ngồi yên, không lên xe. H nhận thấy nếu không cưỡng ép thì D1 và H1 sẽ không đi theo nên đã dùng tay phải của mình nắm chặt cổ tay trái của H1, còn tay trái nắm chặt cổ tay phải của D1 rồi dùng sức kéo cả hai đứng dậy đi từ sân ra đến xe mô tô dựng trước cổng. Do sợ D1 và H1 bỏ trốn nên H nói với Đặng Thọ M: “Mạnh ngồi sau ôm hai đứa lại” thì D1 tự giác lên xe ngồi sát H, còn H1 đứng gần xe nhưng không chịu lên. Thấy vậy, M ôm nhấc bổng cả người H1 lên xe ngồi sát D1, M ngồi sau cùng kẹp D1 và H1 lại. H chở D1, H1 và M đến nhà Đậu Trọng N2, những người còn lại đi theo sau, nhưng N2 không ở nhà. Vì muốn tiếp tục đe doạ và đánh cho D1 và H1 sợ sau này không đi trộm cắp nữa nên H nói: “Đi về nhà anh, coi đúng đôi dép bay trả hay chưa”, D1 và H1 chỉ đứng yên không nói gì, H biết D1 và H1 không muốn đi theo nên nói to: “Đưa nó đi, đưa nó đi”. Sợ bị H đánh nên D1 và H1 lên xe H ngồi, M ngồi sau cùng kẹp D1 và H1 lại. Xe H đi trước, nhóm người còn lại đi theo sau về nhà H tại xóm A, thị trấn D, huyện D.

Đến khoảng 22 giờ 59 phút cùng ngày, khi về đến nhà H chỉ tay nói với H1 và D1: “Bay đứng im đó!” thì D1 H1 đứng im còn H đi vào nhà lấy 02 (hai) chiếc dép tông bằng cao su, màu đen, trên có chữ GG bằng kim loại đưa ra hỏi H1 và D1: “Có đúng đôi dép bay lấy đây không?”, H1 và D1 trả lời: “Dạ đúng!”. H đưa cho H1 và D1 mỗi người một chiếc dép và nói: “Cứ đứa tự tát vào mặt mình 10 cái, tát mạnh lên”, D1 và H1 sợ hãi nên cầm dép tự tát vào mặt mình 10 cái. Lúc này, Cao Huy N3 thấy D1 tự tát nhẹ cho qua chuyện nên tôi cầm 01 (một) chiếc dép quai ngang, bằng da, đang đi ở chân phải lên đánh 01 (một) phát vào má phải của D1 và nói: “Đánh như vầy với mạnh này”. H thu dép lại thả xuống đường rồi dùng tay phải tát vào mặt D1 và H1 mỗi người 02 (hai) cái và nói: “Lần sau không được ăn trộm nữa”. H đi vào nhà lấy ra 01 (một) chiếc còng số 8 bằng kim loại, màu bạc còng tay phải của D1 vào tay trái của H1 rồi H cầm dép tông dưới chân lên đánh vào mặt D1 và H1 mỗi người 02 (hai) phát và nói: “Sau ni bay mà ăn trộm nữa là tau đưa bay lên công an luôn”. Tiếp đó, H đi vào bàn gội đầu trong sân nhà mình lấy 01 (một) chiếc dao cạo râu

Nhãn hiệu GILLETTE VECTOR, sơn màu đen trắng, loại 2 lưỡi rồi đi ra nói với D1, H1: “Tao cạo mỗi đứa một tý cho bay chừa, sau bay không được cắt tóc kẻ như này nữa”, H1 và D1 sợ hãi đứng yên không nói gì, H dùng dao cạo một vùng tóc thái dương trái của H1, rồi đưa dao sang sát thái dương trái của D1 để cạo tóc D1 thì D1 lắc đầu không cho cạo nên dao cạo trúng vào tai trái làm D1 bị thương, chảy máu ở vành tai trái. Sau đó, D1 được Trần Thị N, sinh năm 2001, trú tại xóm A, thị trấn D, huyện D, là vợ của H lau vết thương. H thấy lúc này đã muộn và đã thoả mãn sự bực tức nên mở còng cho D1 và H1 rồi nói Hoàng A chở D1 và H1 về.

Ngày 25/10/2024, Phan Văn D1 gửi đơn tố giác tội phạm đến Công an xã N, huyện D

Ngày 25/10/2024, Cao Huy H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  • - 01 (một) chiếc còng tay số 8 bằng kim loại, màu bạc có khắc chữ “BỘCÔNGAN KC”, đã qua sử dụng, thu giữ của Cao Huy H.
  • - 01 (một) đôi dép tông, màu đen, trên quai dép có gắn chữ GG bằng kim loại màu đen, đế bị bong hở, đã qua sử dụng, do bà Cao Thị S giao nộp.
  • - 01 (một) chiếc dao cạo râu Nhãn hiệu GILLETTE VECTOR, sơn màu đen trắng, loại 2 lưỡi, mỗi lưỡi dài 04cm, tay cầm bọc cao su màu trắng dài 12 cm, đã qua sử dụng, thu giữ của Cao Huy H.
  • - 01 (một) đôi dép tông bằng cao su, màu đen, trên quai dép có gắn chữ GG bằng kim loại màu đen, trên đế dép có hoa văn chữ GG, đã qua sử dụng của Cao Huy H.

Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 85/KLTTCT-TTPY ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh N xác định tỷ lệ thương tích của Phan Văn D1, kết luận: tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Văn D1 tại thời điểm giám định là: 01%

Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 584/KLTTCT-TTPY ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh N xác định tỷ lệ thương tích của Phạm Hoàng H1, kết luận: Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 không có cơ sở để tính tỷ lệ tổn thương cơ thể đám tóc bị cắt ngắn thái dương bên trái của Phạm Hoàng H1

Tại bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện D ngày 14/11/2024 xác định: 01 (một) đôi dép tông bằng cao su, gồm 01 (một) chiếc bên trái và 01 (một) chiếc bên phải có đặc điểm giống

nhau, mỗi chiếc có màu đen, trên quai dép có gắn chữ GG bằng kim loại màu đen, phía dưới đế dép có dòng chữ GUCCI made in Italy, dép đã qua sử dụng, được mua mới ngày 05/10/2024, giá: 1.600.000 đồng

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSDC ngày 23/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Cao Huy H về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm đ, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Đề nghị áp dụng điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cao Huy H từ 02 (năm) 06 (sáu) tháng tù đến 03 năm tù về tội “ Bắt, giữ người trái pháp luật”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy:

  • 01 (một) chiếc còng tay số 8 bằng kim loại, màu bạc có khắc chữ “BỘCÔNGAN KC”, đã qua sử dụng, thu giữ của Cao Huy H.
  • 01 (một) đôi dép tông, màu đen, trên quai dép có gắn chữ GG bằng kim loại màu đen, đế bị bong hở, đã qua sử dụng, do bà Cao Thị S giao nộp.
  • 01 (một) chiếc dao cạo râu Nhãn hiệu GILLETTE VECTOR, sơn màu đen trắng, loại 2 lưỡi, mỗi lưỡi dài 04cm, tay cầm bọc cao su màu trắng dài 12 cm, đã qua sử dụng, thu giữ của Cao Huy H.
  • 01 (một) đôi dép tông bằng cao su, màu đen, trên quai dép có gắn chữ GG bằng kim loại màu đen, trên đế dép có hoa văn chữ GG, đã qua sử dụng của Cao Huy H.

Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra bị cáo đã bồi tường cho bị hại Phan Văn D1 số tiền 10.000.000đồng, bị hại Phan Văn D1, Phạm Hoàng H1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Tại phiên tòa bị hạ, đại diện theo pháp luật và một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên các lời khai đã có tại hồ sơ. Do vậy căn cứ vào các Điều 292, Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và vật chứng được thu giữ cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 24/10/2024, tại nhà Cao Thị S thuộc xóm T, xã N (xã D cũ), huyện D, tỉnh Nghệ An, Cao Huy H đã có hành vi bắt người trái pháp luật đối với Phan Văn D1 (sinh ngày 9/9/2010) và Phạm Hoàng H1 (sinh ngày 25/10/2010), sau đó đưa về nhà của Cao Huy H ở xóm A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An để đe doạ, đánh đập, dùng còng số tám còng tay giữ Phan Văn D1 và Phạm Hoàng H1 từ khoảng 21 giờ 30 phút đến 23 giờ rồi cho D1 và H1 ra về. Tại thời điểm thực hiện hành vi bị cáo Cao Huy H là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, hành vi của Cao Huy H thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm đ, điểm e khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự đúng như truy tố của Viện kiểm sát nên Hội đồng xét xử chấp nhận để xác định tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo.

[4]. Xét tính chất, nhân thân:

Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do về thân thể của con người do

pháp luật bảo vệ, hành vi đó không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải lên một mức án tương xứng để răn đe, phòng ngừa tội phạm.

[5]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên toà khai báo thành khẩn (điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự); đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại (điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Sau khi phạm tội đã đầu thú (là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự).

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thực hiện hành vi bắt, giữ người mang tính bột phát, nguyên nhân chính do bị cáo thường xuyên bị mất trộm tài sản, bị cáo hiểu biết pháp luật còn hạn chế, không lường được hậu quả do hành vi của mình gây ra, việc bắt người chỉ muốn cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại. Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo cải tạo tại địa phương là đủ nghiêm và cũng để thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Đối 01 (một) chiếc còng tay số 8 bằng kim loại, màu bạc có khắc chữ “BỘCÔNGAN KC”, đã qua sử dụng, thu giữ của Cao Huy H đây là công cụ phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy; Đối với 01 (một) đôi dép tông, màu đen, trên quai dép có gắn chữ GG bằng kim loại màu đen, đế bị bong hở, đã qua sử dụng, do bà Cao Thị S giao nộp; 01 (một) chiếc dao cạo râu Nhãn hiệu GILLETTE VECTOR, sơn màu đen trắng, loại 2 lưỡi, mỗi lưỡi dài 04cm, tay cầm bọc cao su màu trắng dài 12 cm, đã qua sử dụng, thu giữ của Cao Huy H đây là công cụ phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy

01 (một) đôi dép tông bằng cao su, màu đen, trên quai dép có gắn chữ GG bằng kim loại màu đen, trên đế dép có hoa văn chữ GG, đã qua sử dụng của Cao Huy H, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu trả lại tài sản, xét tài sản này hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy

[8]. Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra bị cáo đã bồi tường cho bị hại Phan Văn D1 số tiền 10.000.000đồng. Các bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về các vấn đề khác:

  • - Đối với hành vi dùng dao cạo một vùng tóc thái dương trái Phạm Hoàng H1 của Cao Huy H có dấu hiệu tội “Làm nhục người khác” quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Phạm Hoàng H1 và người đại diện theo pháp luật có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên không có căn cứ xử lý
  • - Đối với hành vi dùng dao cạo râu gây thương tích cho Phan Văn D1 (01%) và dùng dép, dùng tay đánh Phạm Hoàng H1 (không gây tổn hại cơ thể) của Cao Huy H. Phan Văn D1 và người đại diện đã có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên không có căn cứ xử lý về hành vi “Cố ý gây thương tích”, Tuy nhiên, hành vi của Cao Huy H đã phạm vào điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Công an huyện D ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định
  • - Đối với Cao Huy N3 có hành vi giúp Cao Huy H tìm nhà Phan Văn D1 và Phạm Hoàng H1, nhưng quá trình H thực hiện hành vi phạm tội, giữa H và N3 không có sự trao đổi, bàn bạc gì, N3 biết mục đích của H, không giúp sức cho H nên không đồng phạm về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Hành vi dùng dép đánh vào mặt Phan Văn D1 (gây thương tích 0%) của Cao Huy N3 phạm vào điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Công an huyện D ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.)
  • - Đối với hành vi trộm cắp 01 đôi dép, trị giá 1.600.000 đồng của Đậu Trọng N2, Phan Văn D1 và Phạm Hoàng H1 không cấu thành tội trộm cắp tài sản.
  • - Đối với hành vi ôm nhấc Phạm Hoàng H1 đưa lên xe mô tô, ngồi sau xe kẹp H1 và D1 lại của Đặng Thọ M. Tại thời điểm thực hiện hành vi, Đặng Thọ M (chưa đủ 16 tuổi nên không phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Cơ quan điều tra đã tiến hành giáo dục, nhắc nhở.
  • - Đối với Phạm Văn T3 có hành vi chỉ đường cho H đến nhà Phạm Hoàng H1, nhưng không biết mục đích của H, không giúp sức cho H nên không đồng phạm với H.
  • - Đối với Nguyễn Ngọc T4, Đặng Hoàng A, Đặng Văn H5, Nguyễn Ngọc K1 và Nguyễn Hữu P đi theo Cao Huy H xuất phát từ tính hiếu kỳ, không có sự giúp sức cho H phạm tội, nên không đồng phạm.

[10]. Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Cao Huy H 02 ( hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Bắt, giữ người trái pháp luật”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Cao Huy H cho UBND thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản Điều 47 Bộ luật hình sự điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

    Tịch thu và tiêu hủy:

    • 01 (một) chiếc còng tay số 8 bằng kim loại, màu bạc có khắc chữ “BỘCÔNGAN KC”, đã qua sử dụng, thu giữ của Cao Huy H; 01 (một) đôi dép tông, màu đen, trên quai dép có gắn chữ GG bằng kim loại màu đen, đế bị bong hở, đã qua sử dụng, do bà Cao Thị S giao nộp; 01 (một) chiếc dao cạo râu Nhãn hiệu GILLETTE VECTOR, sơn màu đen trắng, loại 2 lưỡi, mỗi lưỡi dài 04cm, tay cầm bọc cao su màu trắng dài 12 cm, đã qua sử dụng, thu giữ của Cao Huy H; 01 (một) đôi dép tông bằng cao su, màu đen, trên quai dép có gắn chữ GG bằng kim loại màu đen, trên đế dép có hoa văn chữ GG, đã qua sử dụng của Cao Huy H.
  3. Về án phí: áp dụng Điều 136, khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí

    Buộc bị cáo Cao Huy H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ./

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - CQĐT Công an huyện Diễn Châu;
  • - CQTHAHS huyện Diễn Châu;
  • - CCTHADS huyện Diễn Châu;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN về bắt, giữ người trái pháp luật

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Bắt, giữ người trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bắt giữ trái pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger