Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/DS-PT

Ngày: 26 – 02 – 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng,

hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng

tặng cho quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Khải

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Hùng

Bà Lê Thị Thọ

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Phùng Bích Tuyền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 26 tháng 2 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 235/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 259/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 223/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 11/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K1

Địa chỉ: Số D, đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M - Chức vụ Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần K1.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Minh T - Chức vụ giám đốc Ngân hàng TMCP K1 - chi nhánh huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hồng Q; Địa chỉ số C đại lộ H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  1. Bị đơn:

- Phạm Hoàng Â; Địa chỉ ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Nguyễn Hải Y; Địa chỉ ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X; Địa chỉ ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Ông Phạm Văn M1; Địa chỉ ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Ông Phạm Minh H; Địa chỉ ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Bà Phạm Thị T1, Phạm Minh D; Địa chỉ ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Bà Đặng Thị Mộng T2; Địa chỉ ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Bà Phạm Cẩm D1; Địa chỉ ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông P, bà X, ông H: Ông Nguyễn Tiến C; Địa chỉ ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Người kháng cáo: ông Phạm Minh H, ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Hồng Q trình bày: Ngày 28/3/2018, ông Phạm Hoàng  và bà Nguyễn Hải Y có vay Ngân hàng thương mại cổ phần K1 số tiền là 330.000.000 đồng. Mục đích vay chăm sóc vườn cây và chăn nuôi ba ba. Thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 10,98%/năm. Lãi suất cho vay thay đổi 03 tháng 01 lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng cuối kỳ tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng 3,78%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Để đảm bảo khoản vay ông Phạm Hoàng  đã thế chấp quyền sử dụng đất số L899869 diện tích 9.530m² thuộc các thửa 202, 203 tờ bản đồ số 4A cấp ngày 12/01/1999 cho ông Phạm Hoàng  đứng tên. Nay Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông Phạm Hoàng  và bà Nguyễn Hải Y thanh toán nợ nhưng ông  và bà Y chưa thanh toán.

Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Phạm Hoàng Â, bà Nguyễn Hải Y phải thanh toán tổng dư nợ tính đến ngày 02/7/2019 là: Nợ vốn quá hạn: 330.000.000đồng; Lãi trong hạn: 37.084.948 đồng; Lãi phạt chậm trả: 1.871.084 đồng; Lãi quá hạn: 14.816.096 đồng; Tổng cộng là 383.772.128 đồng. Đồng thời, tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 02/8/2019 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán dứt nợ.

Trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không hết nợ thì yêu cầu cho phát mãi tài sản thế chấp để thanh toán nợ cho nguyên đơn. Tài sản thế chấp bao gồm: Quyền sử dụng đất số L899869 diện tích 9.530m² thuộc các thửa 202, 203 tờ bản đồ số 4A cấp ngày 12/01/1999 cho ông Phạm Hoàng Â.

Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn bà Nguyễn Hải Y trình bày: Do dịch bệnh kéo dài nên việc làm ăn gặp thất bại hiện gia đình rất khó khăn, ông  đã đi làm bảo vệ mấy năm nay. Bà và ông  vẫn đang bán đất để trả nợ Ngân hàng, lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chuyển tên cho ông Phạm Minh H và ông Lưu Tấn P. Bà và ông  không canh tác hay sử dụng phần đất do ông  đứng tên. Nay bà đồng ý trả số tiền nợ cho Ngân hàng và đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông P và ông H.

Quá trình tố tụng tại Tòa án, tại phiên tòa ngày 03/10/2023 bị đơn ông Phạm Hoàng  trình bày: Quá trình vay Ngân hàng, ông có dẫn Ngân hàng xuống thẩm định đất nhưng ông không biết cán bộ Ngân hàng có lập biên bản thẩm định hay không. Việc ông nhận chuyển nhượng đất của ông Phạm Minh D đất là do ông nội ông là Phạm Văn S nợ Ngân hàng Á không trả được nên ông mới mượn nợ bên ngoài trả nợ cho Ngân hàng Á. Sau đó, ông S mới chuyển tên đất sang cho ông D và ông D chuyển tên đất qua cho ông để ông vay vốn Ngân hàng thương mại cổ phần K1 và trả lại cho bên ngoài và một phần tiền để trồng xoài và nuôi ba ba nhưng thời điểm nuôi đúng đợt dịch bệnh C – 19 kéo dài nên bị thua lỗ, không có tiền trả nợ Ngân hàng. Ông biết việc ông S cho đất các cô chú nhưng không biết cho mỗi người bao nhiêu đất. Ông đồng ý trả số tiền nợ ngân hàng và đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông P và ông H.

Quá trình tố tụng tại Tòa án những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày ông Phạm Minh D, bà Đặng Thị Mộng T2 trình bày: Năm 1999, cha ông bà là Phạm Văn S đứng ra có vay tiền của Ngân hàng Á để chia cho các anh chị em đến khi Ngân hàng xiết nợ thì vợ chồng ông bà mượn nợ bên ngoài để trả nợ Ngân hàng Á, sau đó ông S chuyển tên đất qua ông D để ông D vay Ngân hàng trả nợ lại cho bên ngoài. Sau này, cháu Phạm Hoàng  hỏi ông S mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để  vay tiền nên ông S mới kêu ông D chuyển tên qua  để Ân tiền làm ăn.  nói chỉ vay 20 triệu – 30 triệu đồng. Việc hai chị ông D bán đất cho ông P, vợ chồng ông bà không hay biết và cũng không có nhận tiền từ việc mua bán đất và không nhận tiền từ việc  vay ngân hàng. Việc  và Y vay tiền thì vợ chồng  tự trả ông bà không liên quan và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Quá trình tố tụng tại Tòa án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày bà Phạm Cẩm D1 trình bày: Thời điểm ông Phạm Văn S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà là thành viên hộ, nguồn gốc đất do ông S khai phá bà không có công sức đóng góp gì, bà thống nhất với việc tặng cho của ông S và không có ý kiến gì đối với vụ án nêu trên và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Quá trình tố tụng tại Tòa án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T1 vắng mặt không có lời trình bày.

Quá trình tố tụng tại Tòa án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn M1 trình bày: Khoảng năm 2010, ông có chuyển nhượng của bà Phạm Thị Thu P1 đất ruộng diện tích 2.600m², ông canh tác hơn 01 năm thì chuyển nhượng lại cho cháu Nguyễn Thị Mai X, Lưu Tấn P. Ông yêu cầu Phạm Hoàng  trả tiền Ngân hàng để chuộc lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển tên cho X và P, ông có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Quá trình tố tụng tại Tòa án ông Nguyễn Tiến C đại diện uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Minh H có yêu cầu độc lập, trình bày: Năm 1991, ông Phạm Minh H được cha mẹ là ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị K cho phần đất ruộng diện tích 3.300m² và sử dụng từ năm 1991 đến đến năm 1999 thì cha ông Phạm Văn S được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó cha ông chuyển tên cho em ông Phạm Minh D và Phạm Hoàng  thì ông không hay biết. Sau này cháu  đem thế chấp Ngân hàng ông H cũng không hay biết. Nay ông H không đồng ý phát mãi đất mà yêu cầu công nhận đất ruộng diện tích 3.300m² cho ông. Đồng thời, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/5/2014 giữa ông Phạm Văn S, bà Nguyễn Thị K sang ông Phạm Minh D và hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Phạm Minh D sang ông Phạm Hoàng  lập ngày 06/7/2016.

Quá trình tố tụng tại Tòa án ông Nguyễn Tiến C đại diện uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X có yêu cầu độc lập, trình bày: Ngày 06/01/2003, ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X có nhận chuyển nhượng của ông Sơn D2 và bà Phạm Thị B (là con gái và con rễ của ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị K) diện tích đất ruộng 1.300m² với giá 16 chỉ vàng 24K theo “Tờ sang đất” lập ngày 06/01/2003 có ông Phạm Văn S ký tên. Ngày 19/4/2004, ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X có nhận chuyển nhượng của bà Phạm Thị T1 (con gái ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị K) diện tích đất ruộng 1.300m² với giá 16 chỉ 05 phân vàng 24K theo “Tờ sang đất” lập ngày 19/4/2004. Ngày 07/7/2011, ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X có nhận chuyển nhượng của ông Phạm Văn M1 (Ông M1 mua đất của bà Phạm Thị T1) diện tích đất ruộng 2.600m² với giá 63 chỉ vàng 24K theo “Giấy giao kèo sang bán đất”. Các phần đất ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X nhận chuyển nhượng thuộc thửa 203, tờ bản đồ số 4A, quyền sử dụng đất số L899869 cấp ngày 12/01/1999 cho ông Phạm Văn S đến ngày 06/7/2016 ông Phạm Hoàng  đứng tên. Ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X đã giao vàng và đã nhận đất sử dụng từ khi chuyển nhượng đến nay nên yêu cầu công nhận các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 06/01/2003, ngày 19/4/2004 và ngày 07/7/2011 với diện tích đất 5.200m² đất ruộng. Đồng thời, không đồng ý phát mãi quyền sử dụng đất với diện tích đất nói trên. Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Phạm Hoàng Â, bà Nguyễn Hải Y phải thanh toán cho Ngân hàng nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (17/4/2024) tổng cộng là 674.250.283 đồng (trong đó nợ gốc 330.000.000đồng, nợ lãi trong hạn là 36.821.671 đồng, lãi phạt chậm trả là 19.528.475 đồng, lãi quá hạn 287.900.137 đồng) và tiếp tục tính lãi kể từ ngày 18/4/2024 theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng với ông Phạm Hoàng Â, bà Nguyễn Hải Y. Đồng thời yêu cầu phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp của ông Phạm Hoàng  nếu ông  không thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Về trình tự thủ tục pháp lý để ông Phạm Hoàng  vay tiền là đúng quy định pháp luật tại thời điểm cho vay như đất do ông  đứng tên và ông  dẫn đi thẩm định đất nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông H, ông P.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 đối với bị đơn ông Phạm Hoàng  và bà Nguyễn Hải Y;
  2. Buộc ông Phạm Hoàng  và bà Nguyễn Hải Y phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 tổng số nợ tạm tính đến ngày 17/4/2024 là 674.250.283 đồng (Sáu trăm bảy mươi bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn hai trăm tám mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng), lãi tính đến ngày 17 tháng 4 năm 2024 là 344.250.283 đồng (Ba trăm bốn mươi bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn hai trăm tám mươi ba đồng). Ông Â, bà Y tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từng lần số 110/18/HDTD/0902-7087 và hợp đồng tín dụng nguyên tắc số 110/18/HĐNT/0902-7087 ngày 28/3/2018 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (tức ngày 18/4/2024) trên phần nợ gốc chưa thanh toán.
  3. Chấp nhận yêu cầu Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 về việc phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 110/18/HĐTC-BĐS/0902- 7087 ngày 28/3/2018 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 và ông Phạm Hoàng Â, bà Nguyễn Hải Y là quyền sử dụng đất số L899869 diện tích 9.530m thuộc các thửa 202, 203 tờ bản đồ số 4A cấp ngày 12/01/1999 cho hộ ông Phạm Văn S, bà Nguyễn Thị K đứng tên, đến ngày 06/7/2016 thì do ông Phạm Hoàng  đứng tên chủ sử dụng (Có sơ đồ thửa đất kèm theo).
  4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Minh H đối với phần yêu cầu độc lập công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 3.300m².
  5. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Lưu Tấn P và bà Nguyễn Thị Mai X đối với phần yêu cầu công nhận phần đất diện tích 5.200m².
  6. Tách các hợp đồng chuyển nhượng bằng giấy tay giữa bà Phạm Thị B, Phạm Thị T1, ông Phạm Văn M1 với vợ chồng ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X ra giải quyết bằng vụ kiện khác.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi đo đạc, thẩm định giá và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, ông Phạm Minh H, ông Lưu Tấn P và bà Nguyễn Thị Mai X có đơn kháng cáo.

- Ông Phạm Minh H yêu cầu chấp nhận yêu cầu độc lập của ông, công nhận phần đất diện tích 3.142,5m² tọa lạc tại ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang cho ông.

- Ông Lưu Tấn P và bà Nguyễn Thị Mai X yêu cầu chấp nhận yêu cầu độc lập của ông, bà, công nhận phần đất diện tích 5.157m² tọa lạc tại ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Nguyễn Tiến C đại diện uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Minh H, ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng ông H, ông P và bà X đã sử dụng đất liên tục, công khai và ngay tình. Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông D và ông  là giả tạo, mục đích chuyển nhượng là để vay tiền ngân hàng. Ông H và ông P không có lỗi trong vụ án này, ông H, ông P chỉ có lỗi do thiếu hiểu biết pháp luật nên chưa tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc thẩm định khi cho vay của Ngân hàng không có xác nhận của chính quyền địa phương, không xác nhận của người giáp ranh. Hợp đồng tặng cho từ ông S sang ông D bà D1 là thành viên hộ không ký tên, thời điểm tặng cho đất ông D, ông S đã cho đất ông H nên ông S không còn có quyền đối với phần đất tặng cho. Mặt khác, năm 2003, ông S đã ký bán đất cho ông P đến năm 2014 ông S lại ký tặng cho đất cho ông D. Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng tặng quyền sử dụng đất cho của ông H và công nhận hợp đồng chuyển nhượng của ông P, bà X.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:

- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về đề xuất giải quyết vụ án: Căn cứ công văn số 365/CAH-QLHC, ngày của Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang về trích lục hồ sơ hộ thì phần đất có nguồn gốc được cấp cho hộ ông S gồm: Ông S, bà K, bà D3, ông D, bà T3, bà T4, ông L; Tuy nhiên căn cứ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất sang ông D chỉ có ông S, bà K và ông D là chưa đúng quy định của pháp luật cấp sơ thẩm chưa làm rõ ý kiến của thành viên khác trong hộ chưa đưa đầy đủ người tham gia tố tụng; Trong vụ án này hồ sơ thể hiện bà T3 ở nước ngoài nhưng chưa được làm rõ để xác định thẩm quyền; người liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho và công nhận hợp đồng chuyển nhượng, cấp sơ thẩm thụ lý đơn yêu cầu độc lập nhưng không đưa cơ quan có thẩm quyền tham gia tố tụng và có ý kiến về việc cấp giấy là chưa xem xét toàn diện vụ án; Tại [7] của bản án sơ thẩm nhận định hợp đồng tặng chuyển nhượng giữa ông P, bà X với ông M1 vô hiệu nhưng không xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là không phù hợp chưa nhận định hay làm rõ đương sự có yêu cầu hay không trong khi ông P, bà X có yêu cầu độc lập và tại toà phúc thẩm họ yêu cầu xem xét. Trong đơn yêu cầu độc lập, ông P bà X đều yêu cầu giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng với ông Sơn D2, bà B, bà T1 và ông M1; cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu độc lập nhưng không giải quyết mà tách ra là không đúng.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn tại phiên toà phúc thẩm: Mặc dù các đương sự không kháng cáo về hợp đồng tín dụng; Tuy nhiên để vụ án giải quyết triệt nguyên đơn yêu cầu giải quyết hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng tín dụng chung cùng vụ án này và không đồng ý tách riêng. Do đó cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng nghiêm trọng không thể khắc phục tại phiên toà phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử xét áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giao Toà án nhân dân huyện Châu Thành A giải quyết theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26 tháng 4 năm 2024, ông Phạm Minh H, ông Lưu Tấn P và bà Nguyễn Thị Mai X có đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Theo nội dung vụ án Ngân hàng thương mại cổ phần K1 khởi kiện bị đơn Phạm Hoàng  và Nguyễn Hải Y để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng và phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng. Tuy nhiên trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án phát sinh nhiều người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong đó có ông Phạm Minh H và ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn đồng thời ông H yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho giữa ông Phạm Văn S, bà Nguyễn Thị K là cha mẹ ông cho ông và yêu cầu công nhận phần đất diện tích 3.142,5m². Ông Lưu Tấn P và bà Nguyễn Thị Mai X yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tổng diện tích 5.157m² giữa vợ chồng ông với Sơn D2 và Phạm Thị B; Phạm Thị T1, Phạm Văn M1.

[3] Đối với quan hệ pháp luật là hợp đồng tín dụng. Sau khi xét xử sơ thẩm các đương sự không kháng cáo Viện kiểm sát không kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

[4] Đối với hợp đồng thế chấp số 110/18/HĐTC-BĐS/0902-7087, Ngày 28/3/2018 tài sản thế chấp có diện tích 9.530m² liên quan đến phần kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nên Hội đồng xét xử xem xét trình tự phúc phẩm như sau:

[4.1] Về phần đất trong hợp đồng thế chấp và phần đất liên quan đến yêu cầu hủy, yêu cầu công nhận của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các đương sự đều thừa nhận là của ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị K tạo lập. Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm bị đơn ông Phạm Hoàng  cho rằng do ông nhận chuyển nhượng đất của ông Phạm Minh D đất là do ông nội ông là Phạm Văn S nợ Ngân hàng Á không trả được nên ông mới mượn nợ bên ngoài trả nợ cho Ngân hàng Á. Sau đó, ông S mới chuyển tên đất sang cho ông D và ông D chuyển tên đất qua cho ông và tại phiên toà ông thừa nhận chưa có thời gian canh tác phần đất và thừa nhận phần đất là do ông Phạm Minh H, ông Lưu Tấn P và bà Nguyễn Thị Mai X trực tiếp canh tác từ trước khi chuyển giao ông đứng tên phần đất; Ông biết ông nội là ông S có cho đất các cô chú nhưng không biết cho mỗi người bao nhiêu đất và cũng theo bị đơn khi vay ông có dẫn Ngân hàng đến coi đất vì đất lúa, còn lại thủ tục vay Ngân hàng làm ông không biết. Lời trình bày của bị đơn phù hợp với lời khai của ông ông Phạm Minh D, bà Đặng Thị Mộng T2 là năm 1999, cha ông là Phạm Văn S vay tiền của Ngân hàng Á ông D mượn nợ trả, nên ông S để ông D đứng tên khi đứng tên ông D vay Ngân hàng trả nợ. Sau đó cháu Phạm Hoàng  tự nguyện trả nợ thay ông D để mượn giấy vay làm ăn nên ông D đồng ý và chuyển qua cháu Â; ông D thừa nhận không trực tiếp canh tác, sử dụng phần đất. Thừa nhận của ông D phù hợp với tình bày của người liên quan là phần đất do ông H, ông P, bà Mai X là người sử dụng; Ông D và các bị đơn không có sử dụng phần đất mà chỉ đứng tên thông qua các giao dịch chuyển quyền. Ngoài những lời khai trên ông P, bà Mai X còn chứng minh được qua tờ sang đất lập ngày 06/01/2003 có có ông Sơn D2 và bà Phạm Thị B ông Phạm Văn S ký tên; Tờ sang đất lập ngày 19/4/2004 chuyển nhượng của bà Phạm Thị T1; Giấy giao kèo sang bán đất ngày 07/7/2011 chuyển nhượng của ông Phạm Văn M1. Ông P, bà Mai X đã chuyển nhượng và nhận đất canh tác trước thời điểm ông S chuyển tên cho ông D và ông D chuyển tên cho ông Â; Điều này bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận.

[4.2] Quá trình giải quyết ông H đều cho rằng đã được ông S cho và nhận đất sử dụng sau đó cố lại cho ông P, bà Mai X nhưng không được cấp sơ thẩm làm rõ. Ông H có yêu cầu độc lập nhưng cấp sơ thẩm chưa xem xét đến giao dịch cầm cố và số tiền, vàng cố chưa được giải quyết là chưa dứt điểm vụ án.

[4.3] Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P, bà Mai X với của ông Sơn D2 và bà Phạm Thị B; bà Phạm Thị T1; ông Phạm Văn M1. Mỗi người có phần đất riêng có vị trí riêng cấp sơ thẩm không làm rõ và diện tích vị trí của từng người chuyển nhượng lược đồ chỉ thể hiện phần đất của ông P, bà Mai X đang quản lý sử dụng và phần đất ông H đang quản lý sử dụng, không rõ phần đất bà T1, ông M1 chuyển nhượng tại đâu? Vị trí nào? Diện tích bao nhiêu? Lược đồ ghi nhận ông H đang quản lý sử dụng là không đúng với thực tế khách quan vì ông H và ông P, bà Mai X đều thừa nhận ông H đã cố, phần đất hiện tại ông P, bà Mai X quản lý sử dụng.

[5] Các đương sự có yêu cầu độc lập yêu cầu hủy giấy nhưng cấp sơ thẩm không đưa Ủy ban tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm tố tụng. Trong vụ án này việc cấp giấy của cơ quan có thẩm quyền sang cho ông D và từ ông D sang cho bị đơn trong khi phần đất là do người khác là ông P, bà Mai X đang sử dụng, cấp sơ thẩm chưa đánh giá toàn diện tính hợp pháp khi cấp giấy cho đương sự là không phù hợp với quy định pháp luật, không xem có vi phạm trình tự thủ tục trong trường hợp cấp giấy đối với phần đất không tranh chấp và sử dụng ổn định chưa.

[6] Về trình tự xác minh và định giá tài sản để thế chấp. Mặc dù Ngân hàng có đến xem đất để làm thủ tục vay và bị đơn đã lừa dối chỉ phần đất trong khi bị đơn không phải là người trực tiếp canh tác mà phần đất là do ông P, bà Mai X đang canh tác sử dụng; Nhưng cấp sơ thẩm không xem xét đánh giá trình tự xác minh và định giá tài sản để thế chấp có vi phạm không là chưa xem xét toàn diện.

[7] Các đương sự có yêu cầu độc lập trong đó ông H yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho giữa ông S, bà K cho ông và ông đã cố cho ông P, bà Mai X; ông P, bà Mai X yêu cầu độc lập công nhận hợp đồng chuyển nhượng với ông Sơn D2 và bà Phạm Thị B; bà Phạm Thị T1; ông Phạm Văn M1, cấp sơ không chấp nhận yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển, nhưng không buộc quyền và nghĩa vụ của các bên, không buộc giao lại tài sản, không giải quyết hậu quả mà tách ra thành vụ kiện khác là không hợp lý, chưa giải quyết dứt điểm yêu cầu độc lập, không phù hợp với quy định Điều 5, khoản 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 ảnh hưởng đến quyền và lợi hợp pháp của đương sự dẫn đến án khó thi hành.

[8] Với những lỗi vi phạm không thể khắc phục tại phiên toà phúc thẩm. Thống nhất với quan điểm Kiểm sát viên tham gia phiên tòa hủy bản án sơ thẩm giao về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật. Do hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp nguyên đơn cùng khởi kiện và tại toà nguyên đơn yêu cầu giải quyết chung cùng vụ án không đồng ý tách hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp, nên Hội đồng xét xử huỷ toàn bộ vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” giữa: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K1; Bị đơn Phạm Hoàng Â, Nguyễn Hải Y; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X, ông Phạm Văn M1, ông Phạm Minh H, bà Phạm Thị T1, ông Phạm Minh D, bà Đặng Thị Mộng T2, bà Phạm Cẩm D1. Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, để xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Về tạm ứng án phí phúc thẩm: Ông Lưu Tấn P, bà Nguyễn Thị Mai X, ông Phạm Minh H mỗi người được nhận lại 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo các biên lai thu số 0004512, 0004513 và 0004514, ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 26/02/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND h. C,
  • tỉnh Hậu Giang;
  • - Chi cục THADS h. C,
  • tỉnh Hậu Giang;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Hoàng Khải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/DS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 38/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Ông Phạm Minh H yêu cầu chấp nhận yêu cầu độc lập của ông, công nhận phần đất diện tích 3.142,5m2 cho ông. - Ông Lưu Tấn P và bà Nguyễn Thị Mai X yêu cầu chấp nhận yêu cầu độc lập của ông, bà, công nhận phần đất diện tích 5.157m2 .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger