Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-ST Ngày 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lực
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Lý Quang Minh
    2. Ông Lò Văn Chiên
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đồng Xuân Tím - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ công an huyện P, tỉnh Lai Châu và Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hầu A S; Tên gọi khác: Không có, sinh ngày: 19/11/1981 tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam. Bố đẻ: Hầu A H (đã chết); Mẹ đẻ: Vàng Thị S1 (đã chết); Bị cáo chung sống như vợ chồng với Sùng Thị S2, sinh năm 1980; Bị cáo có 08 con; Con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ từ ngày 25/9/2024 đến ngày 28/9/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P cho đến nay, có mặt tại điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ công an huyện P, tỉnh Lai Châu).

* Những người tham gia tố tụng khác:

  • - Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh H1 – Trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L (tại điểm cầu trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L, có mặt).
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • + Ông Giàng A C, sinh năm 1978. Trú tại: Bản L, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu (tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, có mặt)
    • + Chị Giàng Thị D, sinh năm 2004. Trú tại: Bản N, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu (tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 24/9/2024, Hầu A S sinh ngày 19/11/1981, trú tại bản Ngài Thầu, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ESPERO mang biển kiểm soát 25AA-041.24 đi từ nhà đến bản U, xã D, huyện P mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản U Ni C1, xã D, S gặp một người đàn ông dân tộc H, không rõ lai lịch. Qua nói chuyện, S mua của người đàn ông 01 gói Heroine (gói bằng mảnh nilon màu hồng) giá 1.200.000 đồng. Mua được H2, S cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà và không nói cho ai biết. Trong các ngày 24, 25/9/2024, S lấy gói Heroine ra sử dụng 04 lần. Số Heroine còn lại, S vẫn để trong túi quần bên phải đang mặc. Hồi 14 giờ 15 phút ngày 25/9/2024, Hầu A S đang ở nhà tại bản N, xã P, huyện P thì Công an xã P đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 01 gói Heroine (do S tự giao nộp). Ngay sau đó, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hầu A S, quá trình khám xét không thu giữ gì.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25AA-041.24 thuộc sở hữu của Giàng A C, sinh năm 1978, trú tại bản Lang 2, xã B, huyện P cho Giàng Thị D, sinh năm 2004, trú tại bản Ngài Thầu, xã P, huyện P mượn (D là con dâu của Hầu A S). Ngày 24/9/2024, S tự ý lấy chiếc xe mô tô đi mua Heroine và không hỏi ý kiến C, D. Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Giàng Thị D chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25AA- 041.24 kèm đăng ký xe để phục vụ công tác điều tra.

Tại bản Kết luận giám định số 08 ngày 25/9/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Hầu A S có khối lượng là 2,34 gam. Tại bản Kết luận giám định số 1103 ngày 27/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 03/CT-VKSPT, ngày 08 tháng 01 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Hầu A S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Giàng A C và chị Giàng Thị D cùng trình bày: Chị Giàng Thị D là con gái của ông Giàng A C, chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25AA-041.2401 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 25 003114 mang tên Giàng A C thuộc sở hữu của ông Giàng A C cho chị Giàng Thị D mượn. Ngày 24/9/2024, bị cáo Hầu A S tự ý lấy chiếc xe mô tô đi mua Heroine và không hỏi ý kiến ông C, chị D và ông C, chị D không biết việc bị cáo S lấy xe đi mua heroine và thống nhất đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy nói trên cho chị Giàng Thị D.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hầu A S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hầu A S từ 2 năm 09 tháng tù đến 03 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng:
    • + Đối với 2,24 gam Heroine còn lại; 01 mảnh nilon màu hồng; 02 phong bì niêm phong đã mở là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
    • + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu đỏ đen, biển kiểm soát 25AA-041.24; số máy VDEJQ139FMB7390048; số khung RPESCBFPELA390048 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 25 003114 mang tên Giàng A C cần trả lại cho chị Giàng Thị D.
  • - Về án phí, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  • - Người bào chữa cho bị cáo trình bày bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, công tác tuyên truyền pháp luật tại địa phương còn nhiều hạn chế, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là quá nghiêm khắc so với khối lượng heroine mà bị cáo tàng trữ và các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự xem xét xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
    • + Về vật chứng đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu đỏ đen, biển kiểm soát 25AA-041.24; số máy VDEJQ139FMB7390048; số khung RPESCBFPELA390048 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 25 003114 mang tên Giàng A C cần trả lại cho chị Giàng Thị D
  • - Tại phiên tòa bị cáo Hầu A S khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo, bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không có tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu đỏ đen, biển kiểm soát 25AA-041.24 bị cáo mang đi mua heroine không hỏi ý kiên ông Giàng A C cho chị Giàng Thị D và ông Giàng A C cho chị Giàng Thị D không biết việc bị cáo lấy xe mô tô đi mua heroin nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe mô tô nói trên cho chị Giàng Thị D. Tại lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia phiên tòa của người bào chữa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Hầu A S đã thực hiện:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 14 giờ 15 phút ngày 25/9/2024, tại bản N, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu, Hầu A S đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 2,34 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã P bắt quả tang.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H2 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: [...]
c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; [...]
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Hầu A S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo, sinh sống tại xã P, huyện P là vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Bị cáo Hầu A S đang bị Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 46: QĐ-UBND ngày 18/9/2024 với thời hạn quản lý là 01 năm kể từ ngày 18/9/2024, bị cáo chưa chấp hành xong.

[4] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để tiếp tục giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung.

[5] Về hỡnh phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hỡnh sự thỡ bị cỏo cú thể bị ỏp dụng hỡnh phạt bổ sung. Tuy nhiờn, theo cỏc tài liệu, chứng cứ cú trong hồ sơ và lời khai của bị cỏo tại phiờn tũa đều cho thấy bị cỏo là lao động tự do, thu nhập khụng ổn định, hoàn cảnh kinh tế khú khăn. Vỡ vậy, Hội đồng xột xử khụng ỏp dụng hỡnh phạt bổ sung đối với bị cỏo.

[6] Tình tiết liên quan đến vụ án:

  • - Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Hầu A S khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
  • - Đối với Giàng A C và Giàng Thị D, quá trình điều tra xác định C và D không biết việc Hầu A S sử dụng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25AA- 041.24 đi mua Heroine nên C và D không phạm tội.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 0,10 gam Heroine Cơ quan cảnh sát điều tra trích gửi giám định chất ma túy không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với 2,24 gam Heroine còn lại; 01 mảnh nilon màu hồng; 02 phong bì niêm phong đã mở là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu đỏ đen, biển kiểm soát 25AA-041.24; số máy VDEJQ139FMB7390048; số khung RPESCBFPELA390048 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 25 003114 mang tên Giàng A C, tại phiên tòa ông Giàng A C và chị Giàng Thị D đều thừa nhận đây là tài sản ông C cho chị D mượn và đều đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chị Giàng Thị D, do đó cần trả lại cho chị Giàng Thị D.

[8] Về án phí: Do bị cáo là hộ nghèo, là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo đề nghị miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và các vấn đề liên quan đến vụ án là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị có phần còn nghiêm khắc so với hành vi của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

[10] Xét đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự xem xét xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hầu A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[2] Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hầu A S: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024.

Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo Hầu A S để đảm bảo cho việc thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 2,24 gam Heroine còn lại; 01 mảnh nilon màu hồng; 02 phong bì niêm phong đã mở.
  • - Trả lại cho chị Giàng Thị D 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu đỏ đen, biển kiểm soát 25AA- 041.24; số máy VDEJQ139FMB7390048; số khung RPESCBFPELA390048 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 25 003114 mang tên Giàng A C.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 16/01/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).

[4] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - CA huyện Phong Thổ
  • (CQĐT, THAHS, Nhà tạm giữ);
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Lực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger