TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày 17 – 02 – 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Xuân Giao
2. Bà Tống Thị Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Dịu - Thư ký Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Phước N; Sinh ngày 01 tháng 9 năm 1973; Tại: Tỉnh Thừa Thiên Huế;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 6, phường Tân An, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi ở: Hẻm 61 Lê Văn Nhiễu, phường Tân Lập,thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Đặng T (Đã chết) và con bà Hoàng Thị K (Đã chết); Bị cáo có vợ là Vũ Thị L, sinh năm:1974 (Đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2004;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 12/11/2024 cho đến nay – Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn D – Sinh năm: 1975 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Buôn H'Đơk, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
- Người chứng kiến:
- Ông Bùi Thế T1 – Sinh năm: 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. - Ông Trần Hồng V – Sinh năm: 1973 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Hẻm F L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Phước N là người sử dụng ma túy Methamphetamine (ma túy đá) và K1 (ma túy khay) từ đầu năm 2024. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 11 tháng 11 năm 2024, N một mình điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 47P4 - 4393 đến khu vực vòng xoay K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk gặp người nữ giới tên H (chưa xác định được nhân thân lai lịch) hỏi mua ma túy thì H nói N đưa số tiền 1.300.000 (một triệu ba trăm ngàn) đồng cho H rồi chỉ N đi vào hẻm A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk lấy ma túy. Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 12 tháng 11 năm 2024, N điều khiển xe mô tô trên đi vào đầu hẻm A N, phường T, thành phố B thấy hai người nam giới điều khiển xe môtô (không rõ nhân thân lai lịch, biển số xe) đi ngược chiều, người nam giới ngồi sau xe ném xuống đường 01 túi nylon (dạng túi zip) trong suốt, N dừng xe nhặt lên kiểm tra thấy bên trong có 05 gói nylon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, xác địnhlà ma túy Ketamine, cất ở túi bên trong áo khoác màu đen đang mặc rồi điều khiển xe đi về. Khoảng 00 giờ 10 phút, ngày 12 tháng 11 năm 2024, khi N đi đến trước số nhà C Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì bị Công an phường T, thành phố B hiện bắt quả tang, thu giữ 05 gói nylon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. N khai nhận là ma túy Ketamine mua để sử dụng. Lực lượng Công an đã niêm phong số ma túy theo quy định của pháp luật và chuyển hồ sơ đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số: 1826/KL-KTHS ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 05 (năm) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,9790 gam, loại: Ketamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 2,6289 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.
Tại bản kết luận giám định số: 1978/KL-KTHS ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ kết luận: Xe mô tô biển số 47P4-4393, số khung: RLHJC4325BY025285, số máy: JC43E-5929154 không thay đổi.
Cáo trạng số 41/CT-VKS-HS ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Đặng Phước N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Đặng Phước N thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến và đúng theo nội dung bản cáo trạng đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Phước N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đặng Phước N từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 2,6289 gam ma túy, loại: Ketamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 1826/KL-KTHS ngày 20 tháng 11 năm 2024 của phòng K3 Công an tỉnh Đ là vật chứng của vụ án.
Trả lại cho bị cáo Đặng Phước N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, số Imeil: 860169041351612, số Imei2: 860169041351604, gắn sim số 0942.534.072 là tài sản của bị cáo N không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho công tác xét xử và thi hành án.
Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Đặng Văn D 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu sơn đỏ bạc đen, biển kiểm soát 47P4 - 4393, số khung: RLHJC4325BY025285, số máy: JC43E-5929154, là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.
Các nội dung khác: Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo N. Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đến Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 144 ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ.
Đối với nguồn ma túy bị cáo N khai mua của người phụ nữ tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực km3, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và hai người nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) ở hẻm A N, phường T, thành phố B. Quá trình điều tra, vẫn chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên tách hành vi bán ma tuý của các đối tượng trên ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và không bào chữa cho mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 12 tháng 11 năm 2024, trước số nhà C Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Công an phường T, thành phố B phát hiện bắt quả tang Đặng Phước N có hành vi cất giấu 2,9790 gam ma túy loại: Ketamine bên trong 05 gói nylon ở túi áo khoác màu đen Nhu đang mặc trên người với mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Đặng Phước N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) .....
g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;"
- [3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma tuý, nguyên nhân gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, gia tăng các tệ nạn xã hội. Bị cáo có đủ năng lực hành vi để nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, làm hủy hoại sức khỏe con người, mọi hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng. Vì vậy, bị cáo hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.
- [4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
- [5] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với 2,6289 gam ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 1826/KL-KTHS ngày 20 tháng 11 năm 2024 của phòng K3 Công an tỉnh Đ là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (Một) 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, số Imei1: 860169041351612, số Imei2: 860169041351604, gắn sim số 0942.534.072 là tài sản của bị cáo Đặng Phước N không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo N nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu sơn đỏ bạc đen, biển kiểm soát 47P4 - 4393, số khung: RLHJC4325BY025285, số máy: JC43E-5929154 là của anh Đặng Văn D nên cần chấp chận Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Đặng Văn D là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
- [6] Các nội dung khác: Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo N. Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đến Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 144 ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ.
Đối với nguồn ma túy bị cáo N khai mua của người phụ nữ tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực km3, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và hai người nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) ở hẻm A N, phường T, thành phố B. Quá trình điều tra, vẫn chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên tách hành vi bán ma tuý của các đối tượng trên ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
- [7] Về án phí: Bị cáo Đặng Phước N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Phước N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Phước N 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 12/11/2024.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 2,6289 gam ma túy loại Ketamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong 01 phong bì số 1826/KL-KTHS ngày 20/11/2024 ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Đặng Phước N – BMT”, có các chữ ký ghi tên Trần Văn K2, Lê Khắc N1 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K3 Công an tỉnh Đ.
Trả lại cho bị cáo Đặng Phước N 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, số Imei1: 860169041351612, số Imei2: 860169041351604, gắn sim thuê bao 0942534072 (điện thoại trên đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong, không kiểm tra số sim), nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/01/2025 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Đặng Văn D 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu sơn đỏ bạc đen, biển kiểm soát 47P4 - 4393, số khung: RLHJC4325BY025285, số máy: JC43E-5929154.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Phước N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Phước N tàng trữ trái phép chất ma túy
