Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10 - 02 - 2025

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Ngọc Đăng và bà Mai Xuân Thường.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên chính, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 516/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 516/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Cao Thị N, sinh ngày 14/01/1997.

    Địa chỉ: xóm H, xã X, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).

  2. Bị đơn: anh Phạm Quang T, sinh ngày 07/8/1984

    Địa chỉ: xóm H, xã X, huyện H, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt lần thứ hai.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Phạm Đình N1, bà Phạm Thị N2. Nơi cư trú: xóm H, xã X, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày, nguyên đơn - chị Cao Thị N trình bày như sau:

Chị Cao Thị N và anh Phạm Quang T kết hôn, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xóm H, xã X), huyện H, tỉnh Nghệ An ngày 16 tháng 5 năm 2016. Sau khi kết hôn một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn, do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, mâu thuẫn với gia đình nhà chồng. Tháng 7/2016, anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Tháng 4/2022, chị N cũng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, nhưng mỗi người một nơi, vợ chồng không quan tâm đến nhau, rất ít liên lạc với nhau. Tháng 7/2024, chị N về Việt Nam sinh sống, vợ chồng cắt đứt mọi liên lạc. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt, chị không còn tình cảm với anh T, nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Phạm Quang T.

Về con chung: chị N, anh T có 02 người con chung là Phạm Khánh L, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2017 và Phạm Huyền Khánh V, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2021. Khi anh T đi nước ngoài, chị N và hai con chung sống cùng ông Phạm Đình N1 và à Phạm Thị N2 tại xóm B, xã H (nay là xóm X, xã X), huyện H. Năm 2022 chị N đi nước ngoài thì hai cháu do ông N1, bà N2 (ông bà nội) các cháu chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn: Quá trình từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, anh Phạm Quang T vắng mặt và không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, do đó không có ý kiến. Tòa án đã thực hiện niêm yết thông báo thụ lý, Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định. Chị Cao Thị N không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh T cư trú, chị N chỉ biết hiện nay anh T đang sinh sống tại Đài Loan. Theo Công văn số 4585/XNC (D1) ngày 04/11/2024 của Phòng Q1 - Công an tỉnh N thì anh Phạm Quang T xuất cảnh ngày 30/6/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Tòa án đã tiến hành gửi văn bản yêu cầu ông Phạm Đình N1 và bà Phạm Thị N2 (bố mẹ đẻ anh T), trú tại xóm H, xã X, huyện H, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu ông N1, bà N2 thông báo với anh T để gửi lời khai về cho Tòa án. Ông N1 và bà N2 cho biết anh T đi Đài Loan từ năm 2017, đã về Việt Nam 02 lần, lần gần đây nhất là vào tháng 5/2024, thời gian ở nước ngoài thường xuyên liên lạc với gia đình qua mạng xã hội; anh T đã biết chị N đang khởi kiện ly hôn anh T và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết, còn địa chỉ bên nước ngoài của anh T thì ông N1, bà N2 không biết để cung cấp cho Tòa án.

Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh Phạm Quang T liên quan đến giải quyết vụ án, cũng như không ai cung cấp thông tin về nơi cư trú, làm việc hiện tại của anh T.

Ý kiến của ông Phạm Đình N1 và bà Phạm Thị N2: vợ chồng chị N, anh T có 02 người con chung Phạm Khánh L, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2017 và Phạm Huyền Khánh V, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2021. Từ khi anh T, chị N đi nước ngoài làm ăn hai cháu do ông bà chăm sóc nuôi dưỡng, còn chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu do bố mẹ các cháu gửi về. Nếu ly hôn, anh T có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung và ông bà tự nguyện chăm sóc các cháu thay anh T. Về chi phí chăm sóc các con chung của chị N, anh T ông bà không yêu cầu hoàn trả và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông, bà.

Nguyện vọng của cháu Phạm Khánh L: cháu là con của mẹ Cao Thị N và bố Phạm Quang T, nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Cao Thị N được ly hôn anh Phạm Quang T; giao con chung Phạm Khánh L, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2017 và Phạm Huyền Khánh V, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2021 cho chị Cao Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: chị N chưa yêu cầu, nên không xem xét.
  • Về án phí: chị Cao Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng.
    1. Về thẩm quyền:

      Bị đơn anh Phạm Quang T có địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh tại xã X, huyện H, tỉnh Nghệ An. Anh T hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, nên vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.

    2. Về thủ tục hòa giải: căn cứ khoản 1, 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì anh Phạm Quang T vắng mặt tại nơi cư trú và hiện nay đang ở nước ngoài.
    3. Về sự vắng mặt của đương sự:

      Đối với nguyên đơn – chị Cao Thị N đã trực tiếp đến Tòa án để làm việc, viết bản tự khai và cung cấp đầy đủ các giấy tờ, tài liệu cho Tòa án, nhưng không thể tham gia phiên tòa được nên đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

      Đối với bị đơn - anh Phạm Quang T, Hội đồng xét xử thấy rằng: anh T, đã biết Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết việc ly hôn giữa anh T và chị N, nhưng anh T không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án, thể hiện anh T cố tình dấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Anh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2.

      Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Phạm Đình N1 và bà Phạm Thị N2, Hội đồng xét xử xét thấy: ông N1, bà N2 đã nhận được Quyết định đưa vụ ra ra xét xử theo đúng qui định. Ông N1, bà N2 đã đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

      Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự đúng theo qui định.

  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2016 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa chị Cao Thị N và anh Phạm Quang T là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian thì chị N, anh T phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn, do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, mâu thuẫn với gia đình nhà chồng. Tháng 7/2016, anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Tháng 4/2022, chị N cũng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, nhưng mỗi người một nơi, vợ chồng không quan tâm đến nhau, Tháng 7/2024, chị N về Việt Nam sinh sống, chị N, anh T cắt đứt mọi liên lạc.

      Xét thấy: tình cảm vợ chồng giữa chị Cao Thị N và anh Phạm Quang T sống xa nhau nhưng lại không quan tâm tới nhau, mâu thuẫn kéo dài, đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị N được ly hôn anh T là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

    2. Về con chung: chị Cao Thị N và anh Phạm Quang T có 02 con chung Phạm Khánh L, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2017 và Phạm Huyền Khánh V, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2021. Cháu L có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét điều kiện hiện tại, cần chấp nhận nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung của nguyên đơn và không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con, do chị N không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở. Anh T có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

      Về chi phí chăm sóc nuôi dưỡng: Hội đồng xét xử không xem xét, do ông N1, bà N2 không yêu cầu.

    3. Về tài sản chung, nợ chung: chị N không yêu cầu và anh T cũng chưa có ý kiến, nên miễn xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
    4. Về án phí sơ thẩm: chị Cao Thị N phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều: 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T1 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Cao Thị N được ly hôn anh Phạm Quang T.
  2. Về con chung:
    1. Giao con chung Phạm Khánh L, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2017 và Phạm Huyền Khánh V, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2021 cho chị Cao Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
    2. Về cấp dưỡng và chi phí chăm sóc nuôi dưỡng: Hội đồng xét xử không xem xét.
    3. Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
    4. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: chị Cao Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0013449 ngày 12/11/2024.
  5. Về quyền kháng cáo:
    1. Chị Cao Thị N, ông Phạm Đình N1, bà Phạm Thị N2 vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ.
    2. Anh Phạm Quang T đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND tỉnh Nghệ An;

- Cục THADS tỉnh Nghệ An;

- UBND xã Xuân Lam;

- Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger