Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/DS-ST;

Ngày: 23/01/2025;

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lâm Thị Nga.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang, cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 479/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1926/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K.

    Địa chỉ: 4 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

    Địa chỉ liên hệ: I C, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V – Chức vụ: Phó Tổng Giám đốc theo Quyết định ủy quyền số 3366/QĐ-NHKL ngày 21/8/2023 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP K.

    Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phan Nhựt M1, sinh năm: 1998.

    (Xin vắng mặt tại phiên tòa).

  2. Bị đơn: Ông Lê Đình P và bà Lê Thị Thu H.

    Địa chỉ: 7 T, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và tại bản tự khai đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Lê Đình P và bà Lê Thị Thu H có vay của Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh S – Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng K) số tiền là 3.700.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ bảy trăm triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 360/22/HĐTD/1500-2816 ngày 27/09/2022 và Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 359/22/HĐHM/1500-2816 ngày 27/09/2022 giữa Ngân hàng K và Ông Lê Đình P - bà Lê Thị Thu H, cụ thể như sau:

  1. Hợp đồng tín dụng hạn mức số 360/22/HĐTD/1500-2816 ngày 27/09/2022 và Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 359/22/HĐHM/1500-2816 ngày 27/09/2022:
    • - Số tiền vay: 3.700.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ bảy trăm triệu đồng)
    • - Mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh.
    • - Giải ngân ngày: ngày 29/09/2022.
    • - Thời hạn vay: thời hạn vay của số tiền nhận nợ trong mỗi lần nhận số tiền vay được ghi trên từng Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, nhưng tối đa không quá 06 tháng.
    • - Lãi suất vay: 9,5%/năm áp dụng đối với các Khế ước nhận nợ giải ngân trong vòng 03 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng này, Các khế ước nhận nợ giải ngân sau thời gian này, LSV bằng lãi suất cơ sở ngắn hạn (Lãi suất cơ sở kỳ hạn 12 tháng) theo quy định của Ngân hàng K tại thời điểm giải ngân cộng (+) 3,2%/năm. Lãi suất vay sẽ được điều chỉnh theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 2 của Hợp đồng tín dụng hạn mức số 360/22/HĐTD/1500-2816 ngày 27/09/2022.
    • - Lãi suất nợ quá hạn: bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
    • - Kỳ hạn trả nợ gốc và trả lãi: được quy định trong Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 360/KUNN ngày 29/09/2022.
    • - Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm.
  2. Tạm tính đến ngày 23/01/2025, ông Lê Đình P - bà Lê Thị Thu H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền cụ thể như sau:
    Nợ gốc: 3.700.000.000 đồng
    Lãi trong hạn: 143.235.616 đồng
    Phạt chậm trả: 27.731.462 đồng
    Lãi quá hạn: 1.589.915.342 đồng
    Tổng cộng: 5.460.882.420 đồng.

Tài sản thế chấp:

Tài sản của ông P và bà H thế chấp đảm bảo cho khoản vay Hợp đồng tín dụng hạn mức số 360/22/HĐTD/1500-2816 ngày 27/09/2022 và Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 359/22/HĐHM/1500-2816 ngày 27/09/2022 tại Ngân hàng TMCP K theo hợp đồng thế chấp như sau:

Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số cấp GCN CH00337/QSDĐ/2937 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 21/02/2013) chuyển đổi mục đích sử dụng đất ngày 25/5/2020; thửa đất số 562, tờ bản đồ số 4, diện tích 588m², mục đích sử dụng đất: Đất trồng cây lâu năm 238m², đất ở 350m², thời hạn sử dụng đất: đến tháng 10/2043, lâu dài, tọa lạc tại xã L, B, tỉnh Lâm Đồng.

Hợp đồng thế chấp số 359/22/HĐTC-BĐS/1500-2816 ngày 27/9/2022 được công chứng tại Văn phòng C địa chỉ: A H, Phường F, Thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 27/9/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng theo đúng quy định của pháp luật.

Yêu cầu của nguyên đơn:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng hạn mức số 360/22/HĐTD/1500-2816 ngày 27/09/2022 và Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 359/22/HĐHM/1500-2816 ngày 27/09/2022 và các quy định của pháp luật:

Yêu cầu ông Lê Đình P và bà Lê Thị Thu H trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền 5.460.882.421 (năm tỷ, bốn trăm sáu mươi triệu, tám trăm tám mươi hai nghìn, bốn trăm hai mươi mốt) đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn mức số 360/22/HĐTD/1500-2816 ngày 27/09/2022 và Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 359/22/HĐHM/1500-2816 ngày 27/09/2022 cho đến ngày thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng K.

Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng theo đơn khởi kiện và sau khi bản án có hiệu lực thi hành ông P và bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc không trả đầy đủ số tiền vốn, tiền lãi và tiền phạt chậm trả lãi thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên bán đấu giá tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 359/22/HĐTC-BĐS/1500-2816 ngày 27/9/2022 và trích các nguồn thu nhập khác để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP K, cụ thể: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số cấp GCN CH00337/QSDĐ/2937 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 21/02/2013) chuyển đổi mục đích sử dụng đất ngày 25/5/2020; thửa đất số 562, tờ bản đồ số 4, diện tích 588m², mục đích sử dụng đất: Đất trồng cây lâu năm 238m², đất ở 350m², thời hạn sử dụng đất: đến tháng 10/2043, lâu dài, tọa lạc tại xã L, B, tỉnh Lâm Đồng.

Và buộc ông P, bà H phải chịu toàn bộ tiền án phí và các chi phí tố tụng khác có liên quan tới vụ án này.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ tới tham dự phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Các đương sự tranh chấp với nhau về số tiền cho vay mà bị đơn còn nợ của nguyên đơn. Đây là quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn hiện đang cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:

Ngân hàng TMCP K (sau đây gọi tắt là Ngân hàng K) và ông Lê Đình P, bà Lê Thị Thu H có ký kết với nhau Hợp đồng tín dụng hạn mức số 360/22/HĐTD/1500-2816 ngày 27/09/2022 và Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 359/22/HĐHM/1500-2816 ngày 27/09/2022. Theo đó ông P và bà H vay của Ngân hàng K số tiền 3.700.000.000 (ba tỷ, bảy trăm triệu) đồng, ngày giải ngân 29/9/2022; Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh; Thời hạn vay: 06 tháng. Lãi suất 9,5%/năm áp dụng đối với các khế ước nhận nợ giải ngân trong 03 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng này, các khế ước nhận nợ giải ngân sau thời gian này, lãi suất vay bằng lãi suất cơ sở ngắn hạn (Lãi suất cơ sở kỳ hạn 12 tháng) theo quy định của Ngân hàng K tại thời điểm giải ngân cộng 3,2%/năm. Lãi suất vay sẽ được điều chỉnh theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 2 của Hợp đồng tín dụng hạn mức 360/22/HĐTD/1500-2816 ngày 27/9/2022. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông P và bà H đã dùng tài sản để thế chấp là: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số cấp GCN CH00337/QSDĐ/2937 ngày 07/7/2011 mang tên bà Bùi Thanh N và cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 21/02/2013 sang tên bà Lê Thị Thu H, chuyển đổi mục đích sử dụng đất ngày 25/5/2020; thửa đất số 562, tờ bản đồ số 4, diện tích 588m², mục đích sử dụng đất: Đất trồng cây lâu năm 238m², đất ở 350m², thời hạn sử dụng đất: đến tháng 10/2043, lâu dài, tọa lạc tại xã L, B, tỉnh Lâm Đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông P và bà H đã vi phạm thỏa thuận về việc thanh toán nợ, đã không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký nên khoản vay chuyển nợ quá hạn.

Căn cứ Bảng kê các khoản nợ gốc và lãi phát sinh của bị đơn đến ngày xét xử do ngân hàng cung cấp thể hiện đến ngày 23/01/2025 số tiền ông P và bà H còn nợ ngân hàng gồm:

  • Nợ gốc: 3.700.000.000 (ba tỷ, bảy trăm triệu) đồng;
  • Lãi trong hạn: 143.235.616 (một trăm bốn mươi ba triệu, hai trăm ba mươi lăm nghìn, sáu trăm mười sáu) đồng;
  • Lãi quá hạn: 1.589.915.342 (một tỷ, năm trăm tám mươi chín triệu, chín trăm mười lăm nghìn, ba trăm bốn mươi hai) đồng.
  • Phạt chậm trả: 27.731.462 (hai mươi bảy triệu, bảy trăm ba mươi mốt nghìn, bốn trăm sáu mươi hai) đồng.
  • Tổng số tiền nợ là: 5.460.882.420 (năm tỷ, bốn trăm sáu mươi triệu, tám trăm tám mươi hai nghìn, bốn trăm hai mươi) đồng.

Trong quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tới làm việc để tham gia hòa giải cũng như xét xử vụ án nhưng đều vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc nêu trên, do đó Tòa án không thể thu thập được chứng cứ từ phía bị đơn. Như vậy thể hiện việc bị đơn đương nhiên chấp nhận việc khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, văn bản, kết luận, của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Nên căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ gồm Hợp đồng cho vay, các khế ước nhận nợ như nguyên đơn đã trình bày ở trên và căn cứ Điều 91, khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cùng các tài liệu nguyên đơn cung cấp, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán ngay khi án có hiệu lực pháp luật số tiền tạm tính đến ngày 23/01/2025 với tổng số tiền nợ như đã nêu ở trên là đúng quy định của pháp luật.

Buộc bị đơn thanh toán cho Ngân hàng TMCP K tiền lãi chậm trả phát sinh từ ngày 24/01/2025 tính trên nợ gốc với mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.

Trong trường hợp đến ngày bản án có hiệu lực thi hành mà ông P và bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì theo Điều 299 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm có quy định như sau: “1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng. 2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật” Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số cấp GCN CH00337/QSDĐ/2937 ngày 07/7/2011 mang tên bà Bùi Thanh N và cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 21/02/2013 sang tên bà Lê Thị Thu H, chuyển đổi mục đích sử dụng đất ngày 25/5/2020; thửa đất số 562, tờ bản đồ số 4, diện tích 588m², mục đích sử dụng đất: Đất trồng cây lâu năm 238m², đất ở 350m², thời hạn sử dụng đất: đến tháng 10/2043, lâu dài, tọa lạc tại xã L, B, tỉnh Lâm Đồng để thu hồi nợ đối với các khoản vay của bị đơn cho Ngân hàng, căn cứ theo Hợp đồng thế chấp số 359/22/HĐTC-BĐS/1500-2816 ngày 27/9/2022 được công chứng tại Văn phòng C địa chỉ: A H, Phường F, Thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 27/9/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng là hoàn toàn hợp lý và theo đúng quy định của pháp luật.

Trường hợp nếu đến ngày án có hiệu lực thi hành khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn đã thanh toán hết số tiền nợ gốc, lãi, lãi phát sinh tiếp tục đến ngày thanh toán thì nguyên đơn phải trả lại toàn bộ bản chính các giấy tờ đang còn giữ cho ông P và bà H.

Nếu giá trị tài sản bảo đảm phát mãi không đủ thanh toán nợ thì ông Lê Đình P và bà Lê Thị Thu H tiếp tục có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng (hai bên đã có thỏa thuận tại Khoản 2 Điều 9 của Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 359/22/HĐHM/1500-2816 ngày 27/9/2022).

Về tiền chi phí tố tụng:

Do yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở và được chấp nhận nên bị đơn phải có trách nhiệm chịu khoản tiền chi phí tố tụng bao gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ và chi phí định giá tài sản theo quy định tại các Điều 156, 157, 158, 163, 164, 166 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên buộc bị đơn phải thanh toán ngay cho nguyên đơn khi bản án có hiệu lực thi hành số tiền (do Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng thu tạm ứng từ Ngân hàng TMCP K) là: 17.100.000 (mười bảy triệu, một trăm nghìn) đồng do bị đơn chịu. Nếu bị đơn không hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K như đúng thời hạn thỏa thuận thì Ngân hàng TMCP K được quyền gộp chung số tiền này khi thực hiện thủ tục thu hồi nợ (phát mãi tài sản) của ông Lê Đình P và bà Lê Thị Thu H.

[3] Về án phí:

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về dân sự sơ thẩm là 113.460.882 (một trăm mười ba triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn, tám trăm tám mươi hai) đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền 56.074.611 (năm mươi sáu triệu, không trăm bảy mươi tư nghìn, sáu trăm mười một) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0030709 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Tp ..

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 299, 463, 466, 584 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  1. Buộc ông Lê Đình P và bà Lê Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền phải thanh toán khoản nợ vay của Hợp đồng tín dụng hạn mức số 360/22/HĐTD/1500-2816 ngày 27/09/2022 và Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 359/22/HĐHM/1500-2816 ngày 27/09/2022 tạm tính đến ngày 23/01/2025 là Nợ gốc: 3.700.000.000 (ba tỷ, bảy trăm triệu) đồng;

    Lãi trong hạn: 143.235.616 (một trăm bốn mươi ba triệu, hai trăm ba mươi lăm nghìn, sáu trăm mười sáu) đồng;

    Lãi quá hạn: 1.589.915.342 (một tỷ, năm trăm tám mươi chín triệu, chín trăm mười lăm nghìn, ba trăm bốn mươi hai) đồng.

    Phạt chậm trả: 27.731.462 (hai mươi bảy triệu, bảy trăm ba mươi mốt nghìn, bốn trăm sáu mươi hai) đồng.

Tổng số tiền nợ là: 5.460.882.420 (năm tỷ, bốn trăm sáu mươi triệu, tám trăm tám mươi hai nghìn, bốn trăm hai mươi) đồng.

Và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã thỏa thuận nêu trên từ ngày 24/01/2025 cho đến khi bị đơn thanh toán xong hết nợ gốc và lãi. Ông Lê Đình P và bà Lê Thị Thu H phải thực hiện nghĩa vụ này ngay khi bản án có hiệu lực thi hành. Việc giao nhận do các đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện qua Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trong trường hợp đến ngày bản án có hiệu lực thi hành mà bị đơn không thanh toán khoản tiền nợ vay nêu trên thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số cấp GCN CH00337/QSDĐ/2937 ngày 07/7/2011 mang tên bà Bùi Thanh N và cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 21/02/2013 sang tên bà Lê Thị Thu H, chuyển đổi mục đích sử dụng đất ngày 25/5/2020; thửa đất số 562, tờ bản đồ số 4, diện tích 588m², mục đích sử dụng đất: Đất trồng cây lâu năm 238m², đất ở 350m², thời hạn sử dụng đất: đến tháng 10/2043, lâu dài, tọa lạc tại xã L, B, tỉnh Lâm Đồng để thu hồi nợ đối với các khoản vay của bị đơn cho Ngân hàng, căn cứ theo Hợp đồng thế chấp số 359/22/HĐTC-BĐS/1500-2816 ngày 27/9/2022 được công chứng tại Văn phòng C địa chỉ: A H, Phường F, Thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 27/9/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để thu hồi nợ đối với các khoản vay của bị đơn cho Ngân hàng.

Trường hợp nếu đến ngày án có hiệu lực thi hành khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn đã thanh toán hết số tiền nợ gốc, lãi, lãi phát sinh tiếp tục đến ngày thanh toán thì nguyên đơn phải trả lại toàn bộ bản chính các giấy tờ đang còn giữ cho bị đơn.

2. Buộc ông Lê Đình P và bà Lê Thị Thu H trả lại cho Ngân hàng TMCP K chi phí tố tụng là (do Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng thu tạm ứng từ Ngân hàng TMCP K) là: 17.100.000 (mười bảy triệu, một trăm nghìn) đồng ngay khi bản án có hiệu lực thi hành.

Nếu bị đơn không hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K như đúng thời hạn thỏa thuận thì Ngân hàng TMCP K được quyền gộp chung số tiền này khi thực hiện thủ tục thu hồi nợ (phát mãi tài sản) của ông Lê Đình P và bà Lê Thị Thu H

3. Về án phí:

Buộc ông Lê Đình P và bà Lê Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.460.882 (một trăm mười ba triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn, tám trăm tám mươi hai) đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền 56.074.611 (năm mươi sáu triệu, không trăm bảy mươi tư nghìn, sáu trăm mười một) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0030709 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Tp ..

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TANDTPHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 12;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/DS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 38/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger