Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số 38/2024/HSST

Ngày 16/12/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Ký

Bà Lê Thị Bảy

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa: Ông Hàn Văn Vinh - Kiểm Sát Viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 37 ngày 24/10/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 45 ngày 21/11/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 04/04/1986 tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Phạm nhân; Nơi cư trú: Xóm P, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ở hiện nay: Trại giam T4, Cục C10 Bộ C1. Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị L1; Có vợ là Vũ Thị M, sinh năm 1991 (đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, lớn 13 tuổi, nhỏ 11 tuổi; Tiền sự: 00; Tiền án: 01 - Tại Bản án số 58/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời điểm phạm tội, bị cáo đang chấp hành hình phạt của bản án trên.

Bị cáo được trích xuất từ ngày 20/08/2024 từ Trại giam T4 đến nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa cho đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo - Luật sư được chỉ định:

Ông: Bùi Hữu N – Chức vụ Luật sư.

Nơi công tác: Văn Phòng Luật Sư Bùi Hữu N1.

Địa chỉ: Số D, Đường N, Phường P, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên đến vụ án:

  1. Trại giam T4 - Cục C2 – Bộ C1.
  2. Địa chỉ: xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình G.

    Chức vụ: Giám Thị Trại giam T4.

  3. Anh: Hồ Công C – Sinh năm: 1989.
  4. Nơi công tác: Cán bộ phân trại số 3, Trại giam T4, Cục C2, Bộ C1.

    Địa chỉ: xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  1. Ma Văn T1 – Sinh năm: 1985.
  2. Địa chỉ: P đang chấp hành án tại Trại giam T4, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Bùi Văn T2 – Sinh năm: 2002.
  4. Địa chỉ: P đang chấp hành án tại Trại giam T4, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa Người đại diện theo pháp luật của Trại giam T4 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. anh Hồ Công C có đơn xin xét xử vắng mặt. Người làm chứng anh Ma Văn T1 và Bùi Văn T2 vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1986, hiện đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên là phạm nhân đang chấp hành án tại phân trại số C, Trại giam T4, Cục C2 - Bộ C1. Chiều ngày 06/12/2023, T cùng với 22 phạm nhân khác được cán bộ quản giáo phụ trách đội phạm nhân số 10 thuộc khu lao động, dạy nghề phân trại số 3, Trại giam T4 dẫn giải ra khu vực lao động của phân trại thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện N để thực hiện việc lao động, cải tạo theo quy định. Quá trình lao động, đến khoảng 16 giờ 25 phút cùng ngày, lợi dụng nơi lao động tiếp giáp với khe suối và khu vực rừng rậm, điều kiện canh gác quản lý ở phạm vi rộng, T chạy xuống khe bờ suối, lội qua suối và đi thẳng vào trong rừng, đi theo lối mòn ven sườn đồi để bỏ trốn. Khoảng hơn 5 phút sau, sau khi kết thúc buổi lao động, trong quá trình điểm danh, tập hợp phạm nhân dẫn giải về nơi giam giữ, Đại úy Hồ Công C phát hiện thấy thiếu phạm nhân Toản nên đã bắn súng báo động, báo cáo Chỉ huy phân trại biết để triển khai phương án truy bắt. Đến 06 giờ 39 phút, ngày 07/12/2023 Trại giam T4 đã bắt lại được phạm nhân T tại khu vực ven đường vào P, cách khu vực lao động khoảng 1km và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T.

Bản cáo trạng số: 36/CT-VKSNX ngày 27/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ" theo khoản 1 Điều 386 của Bộ luật Hình sự.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 06/12/2024, người đại diện theo pháp luật của trại giam T4 không có yêu cầu gì đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 07/12/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Hồ Công C giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra và không có yêu cầu gì đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 386; các điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50; Điều 55; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T với mức án từ 06 đến 09 tháng tù.

Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị giải quyết các vấn đề khác của vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T nêu quan điểm: Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” theo khoản 1 Điều 386 của Bộ luật Hình sự;

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo T được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân lương thiện; Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thống nhất với quan điểm bào chữa của luật sư và không bổ sung ý kiến bào chữa; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh: Khoảng 16 giờ 25 phút ngày 06/12/2023, tại hiện trường lao động của Phân trại số C, Trại giam T4, Cục C2 Bộ C1 thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện N, Nguyễn Văn T là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại phân trại số 3, Trại giam T4 đã lợi dụng điều kiện được dẫn giải ra khỏi khu giam giữ đề lao động, cải tạo. T đã lợi dụng việc sơ hở trong công tác canh gác, quản lý phạm nhân của cán bộ quản giáo nên bị cáo đã nảy sinh ý định chạy trốn và đã thực hiện hành vi bỏ trốn khỏi hiện trường lao động, nhằm thoát khỏi sự quản lý của cán bộ quản giáo và Cảnh sát bảo vệ. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với báo cáo của cán bộ quản giáo của Trại giam T4, các phạm nhân cùng chấp hành án, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, dấu vết tội phạm, phù hợp với nội dung của bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
  3. Bị cáo Nguyễn Văn T hiện đang là phạm nhân chấp hành án tại Trại giam T4. Mặc dù đang chấp hành án, chịu sự quản lý giám sát của trại giam T4, cục C2, Bộ C1. Nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi vượt ra khỏi sự quản lý giám sát của cán bộ quản giáo nhằm mục đích trốn chạy. Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ sở giam giữ, xâm phạm đến chế độ quản lý, giam giữ phạm nhân. Vì vậy, hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ Luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  4. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo T là ít nghiêm trọng, gây nguy hại không lớn cho xã hội nhưng đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan có trách nhiệm thi hành án hình sự, vi phạm nội quy quản lý của trại giam, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn và tại nơi cải tạo.
  5. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

    Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án, hiện đang là phạm nhân chấp hành hình phạt tù tại trại giam T4.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

    Mặt khác, quá trình điều tra do có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của bị cáo, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định pháp y về tâm thần đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Kết quả tại Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 143/KLGĐ ngày 31/5/2024 của V xác định: Trước, trong khi xảy ra sự việc và tại thời điểm giám định Nguyễn Văn T bị bệnh Tâm thần phân liệt thể Paranoid, giai đoạn bệnh tái phát (tương đương với giai đoạn bệnh thuyên giảm), theo Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã F20.0; tại các thời điểm trên phạm nhân hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó bị cáo T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo đã bị xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời điểm phạm tội, bị cáo đang chấp hành hình phạt của bản án 58/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Lẽ ra sau lần phạm tội đó bị cáo phải thấy được lỗi lầm của mình để cố gắng cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội, nhưng bị cáo lại tiếp tục cố ý thực hiện hành vi phạm tội mới. Hành vi phạm tội của bị cáo lần này là tái phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

  6. Về hình phạt: Từ việc phân tích đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt như trên, Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo T đang phải chấp hành hình phạt tù, nhưng thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện học tập, bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới nên cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội nhưng cũng cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt chính để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân tốt cho xã hội.

    Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T hiện đang chấp hành bản án số 58/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/04/2023. Tính đến trước ngày bị xét xử lần này là ngày 15/12/2024, bị cáo đã chấp hành được 01 (Một) năm 08 (T3) tháng 05 (Năm) ngày. Thời gian bị cáo còn phải chấp hành án là 09(Chín) tháng 25 (Hai mươi lăm) ngày tù. Do đó cần căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của phần hình phạt còn lại của bản án trước và hình phạt đối với lần phạm tội này.

  7. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 386; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50, Khoản 2 Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào: Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 6 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam giữ".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt còn phải chấp hành của bản án số 58/2023/HSST ngày 29/08/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang là 09 (Chín) tháng 25 (Hai mươi lăm) ngày tù. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 15 (Mười lăm) tháng 25 (Hai mươi lăm) ngày tù. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/12/2024.

Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/12/2024). Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú. Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND H.Như Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Nhà tạm giữ công an huyện Như Xuân;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa
  • - CQĐT H.Như Xuân;
  • - Chi cục THADS H.Như Xuân;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HSST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA về hình sự (trốn khỏi nơi giam, giữ)

  • Số bản án: 38/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trốn khỏi nơi giam, giữ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Trốn khỏi nơi giam giữ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger