|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HSST Ngày 28/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thanh Hương
2. Ông Lò Văn Hoan
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ
- Đại diện VKSND Thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thuân - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/HSST ngày 15/11/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXX-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Ngọc T. Bị cáo không có tên gọi khác:
Sinh năm 1994. Tại tỉnh Đ.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Lò Văn Đ; con bà:Lò Thị V; gia đình bị cáo có 3 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 3; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiên án: Không;
Tiền sự: 01: Ngày 02/02/2021 bị TAND huyện Đ, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 22 tháng, ngày 02/12/2022 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam trong vụ án này ngày 06/10/2024, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/10/2024, Thanh đi bộ đến nghĩa trang thuộc bản K, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên gặp và hỏi mua của 01người phụ nữ không quen biết 01 gói Methamphetamine, gói bằng 02 mảnh nilon màu xanh với giá 2.00.000đ, mục đích đem về sử dụng. Mua được Methamphetamine T cầm trong lòng bàn tay phải đi về nhà. Hồi 16 giờ cùng ngày khi Thanh đến khu vực tổ 04, phường N, thành phố Đ, tỉnh Đ thì bị tổ công tác Công an thành phố Đ, phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng gồm 01 gói ma túy.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 06/10/2024 đã xác định: 07 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp thu giữ của Lò Ngọc T có khối lượng 0,62 gam ký hiệu M gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1576/KL-KTHS ngày 12/10/2024 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng ký hiệu M có khối lượng 0,62 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,52gam.
Tại bản cáo trạng số 207/CT-VKSTPĐBP ngày 15/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Lò Ngọc T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Ngọc T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS.
Xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.
Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND thành phố Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hồi 16 giờ ngày 06/10/2024 tại khu tổ 4, phường N, thành phố Đ, tỉnh Đ, Lò Ngọc T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,62 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy có được là do mua của một người phụ nữ tại nghĩa trang thuộc bản K, phường N với giá 200.000₫ sau khi mua ma túy được T đem về chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ 0,62 gam Methamphetamine trên người mục đích để sử dụng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.
Cáo trạng của VKSND thành phố Đ đã truy tố bị cáo là đúng ngời, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trớc pháp luật về hành vi phạm tội của mình đã gây ra.
[2]. Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thì hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nớc về chất ma tuý. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song vì nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp và cố tình vi phạm. Nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lò Ngọc T HĐXX thấy rằng: Sinh ra và lớn lên tại xã T, Xương, huyện Đ bản thân học hết lớp 9. Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 02/02/2021 bị TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 22 tháng, ngày 02/12/2022 chấp hành xong. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu lại là đối tượng nghiện ma túy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo tiếp tục cai nghiện cải sửa lỗi lầm trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của VKS là phù hợp HĐXX chấp nhận.
[4]. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét kinh tế bị cáo khó khăn, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nên không có điều kiện để thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người phụ nữ bị cáo đã gặp tại nghĩa trang bản Khá, phường Nam Thanh, Tp Điện Biên Phủ đã bán ma túy cho bị cáo, do không đủ căn cứ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét.
[5]. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.
[6]. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng.
Tịch thu tiêu huỷ H: 0,52 gam Methamphetamine được hoàn lại sau giám định; 02 mảnh nilon màu xanh.
[7].Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Lò Ngọc Thanh phải chịu 200.000đ án phí HSST
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/ BLHS; Điều 331, Điều 333/BLTTHS;
- Tuyên bố: Bị cáo Lò Ngọc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt bị cáo Lò Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 06/10/2024)
-
Vật chứng: Căn cứ: Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ: 0,52 gam Methamphetamine được hoàn lại sau giám định; 02 mảnh nilon màu xanh.
(Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ vào ngày 15/11/2024 đặc điểm vật chứng mô tả theo biên bản giao nhận). - Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Lò Ngọc T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạc Thị Liên |
Bản án số 38/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 38/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 18 tháng
