Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO PHONG

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày: 28-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nam

Bà Trần Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Tuấn và bà Trần Ngọc Mai - Kiểm sát viên

Trong các ngày 19, 26 và ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2024/TLST- HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Tiến D

- Sinh ngày 15/3/1966, tại huyện C

Nơi ĐKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã T, huyện C, tỉnh H.

Nghề nghiệp: Giám đốc HTX dịch vụ điện năng xã T

Là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt);

Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Phạm Văn T - sinh năm 1933 (Đã chết)

Con bà Vũ Thị H - sinh năm 1931 (Đã chết)

Có vợ: Nguyễn Thị Hải Y - sinh năm 1969

Có 02 con, lớn sinh năm 1991 nhỏ sinh năm 2001;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; (Có mặt).

- Nguyên đơn dân sự: Chi cục thuế khu vực C;

-Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu N - Chi cục thuế khu vực C;

Người đại diện được ủy quyền: Ông Nguyễn Tuấn C - Chức vụ: Đội trưởng Đội kiểm tra thuế - Chi cục thuế khu vực C. - Vắng mặt có lý do

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2

  1. Anh Bùi Văn Tr - sinh năm 1980 (Có mặt)
    Trú tại: Khu 2, TT. C, huyện C, tỉnh H
  2. Anh Quách Hoàng G - Sinh năm: 1966 (Có mặt)
    Trú tại: Xóm Đỉnh C, xã T, huyện C, tỉnh H
  3. Chị Nguyễn Thị Ng - Sinh năm: 1985 (Vắng mặt có lý do)
    Trú tại: K1210, HH12, khu đô thị D, Yên N, H, H
  4. Anh Bùi Anh C - Sinh năm: 1991 (Vắng mặt)
    Trú tại: Xóm T, xã T, huyện C, tỉnh H

- Người làm chứng:

  1. Ông Vũ Văn N - Sinh năm: 1958 (Có mặt)
    Trú tại: Xóm Đ, xã T, huyện C, tỉnh H
  2. Ông Phạm Tiến S - Sinh năm: 1968 (Có mặt)
    Trú tại: Xóm Đ, xã T, huyện C, tỉnh H
  3. Ông Nguyễn Văn L - sinh năm: 1958 (Có mặt)
    Trú tại: Xóm Đ, xã T, huyện C, tỉnh H
  4. Anh Bùi Việt Dg - Sinh năm: 1990 (Có mặt)
    Trú tại: Xóm B2, xã T, huyện C, tỉnh H
  5. Anh Bùi Văn Ng -Sinh năm: 1971 (Có mặt)
    Trú tại: Xóm V, xã T, huyện C, tỉnh H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/11/2003, tại UBND xã Thu Phong huyện Cao Phong, Phạm Tiến Dũng với vai trò là Chủ tọa cùng 08 xã viên khác gồm các ông: Vũ Văn Ngọc, Bùi Thanh Thiệu, Quách Hoàng Giang, Bùi Ngọc Ân, Bùi Hồng Phương, Bùi Văn Chậm, Bùi Văn Chức và Vũ Đức Khôi đã tiến hành Đại hội thông qua việc thành lập Hợp tác xã D6(HTX). Ngày 04/12/2003, UBND huyện C nhận đăng ký kinh doanh Hợp tác xã số 25K.07.00004 cho HTX dịch vụ điện năng xã Tlàm việc được đặt tại Văn phòng UBND xã Tvới số vốn điều lệ là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng).

Hiện nay, HTX dịch vụ điện năng xã T xã viên gồm: Phạm Tiến D1là Chủ tịch HĐQT kiêm GĐ HTX, là người đại diện pháp luật của HTX; Bùi Văn TKế toán; Quách Hoàng GThủ quỹ; Vũ Văn N soát viên; Ông P1 Cxã V2Ông Bùi Văn N1; Ông Bùi Việt D V3Trụ sở HTX đặt tại nhà Phạm T1D1có địa chỉ ở xóm Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hòa BìnhĐiều lệ hoạt động đang áp dụng là Điều lệ ban hành ngày 10/6/2015; Vốn điều lệ là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng).Từ ngày 25/01/2008, HTX đã được Sở Công Thương tỉnh H hoạt động điện lực cho lĩnh vực phân phối và bán lẻ điện nông thôn trong phạm vi địa bàn xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bìnhnhưng do chưa có hệ thống lưới điện nên chưa diễn ra hoạt động kinh doanh điện năng của HTX. Đến ngày

3

05/3/2010, HTX dịch vụ điện năng xã Tđược nhận bàn giao công trình điện lưới điện ReII xã Tcó quy mô 15.765 (m) đường dây hạ áp và 888 công tơ điện 1 pha với tổng giá trị là 3.407.558.000 đồng. Đồng thời, HTX có nghĩa vụ trả khoản nợ gốc và lãi số tiền vay Ngân hàng T4(WB) để xây dựng công trình điện lưới điện ReII xã Tnêu trên theo Công văn số 1927/STC-QLNS ngày 27/8/2013 của Sở Tài chính tỉnh H

HTX dịch vụ điện năng xã Tcó mã số thuế là 5400248484; Là đơn vị hạch toán độc lập; Áp dụng chế độ hạch toán theo quy định tại Thông tư 24/2017/TT-BTC về hướng dẫn chế độ kế toán hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã của Bộ T5 ngày 28/3/2017; Thực hiện kê khai thuế tại C2Mvà sử dụng 01 tài khoản ngân hàng số 3010201001086 tại Ngân hàng A1 Chi nhánh C3năm 2014. Ngoài ra, HTX còn sử dụng phần mềm quản lý điện năng “EMAN” trong quá trình quản lý hoạt động kinh doanh điện năng.

Sau khi được bàn giao lưới điện ReII để hoạt động, HTX đã ký hợp đồng mua điện từ Điện lực Cao Phong và Điện lực Kthông qua 05 trạm biến áp gồm TBA TTBА Xóm Bưng, TBA UBND, TBA XómVỏ, TBA Xóm Thá, để phân phối bán lẻ điện năng tới các khách hàng trên địa bàn 13 xóm của xã TSố lượng công tơ của khách hàng được phát triển từ 888 công tơ lên 1.140 công tơ (gồm cả 03 pha và 01 pha). Ngoài thực hiện phân phối bán lẻ điện năng, HTX không thực hiện hoạt động kinh doanh khác. Trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh điện từ năm 2018 đến hết 2022, Pthực hiện kê khai đầy đủ toàn bộ doanh thu phát sinh với Chi cục thuế khu vực C Nhà nước thất thu số tiền thuế là 160.226.438đ (Một trăm sáu mươi triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn, bốn trăm ba mươi tám đồng). Trong đó: thuế giá trị gia tăng là 69.478.628 đồng, thuế thu nhập doanh nghiệp là 90.747.810 đồng. Cụ thể như sau:

HTX chia khách hàng thành hai nhóm gồm: Khách hàng không sử dụng hóa đơn (gọi là khách hàng lẻ, thường là các hộ dân) và khách hàng sử dụng hóa đơn (thường là các cơ quan tổ chức, doanh nghiệp).

Ngày 20 hàng tháng, các xã viên trong HTX chốt chỉ số công tơ của khách hàng và phản ánh vào sổ chốt công tơ. HTX thực hiện nhập chỉ số chốt công tơ vào phần mềm quản lý điện năng EMAN (được cài đặt tại máy tính của HTX) để phần mềm tự động lên phiếu thu tiền điện đối với từng khách hàng, người nhập chỉ số chốt công tơ chủ yếu là Phạm T1D1ngoài ra còn có ông Bùi Văn T và ông Bùi Việt D V3Riêng đối với nhóm khách hàng sử dụng hóa đơn thì không thực hiện nhập chỉ số công tơ vào phần mềm để lên phiếu thu mà thay vào đó là Phạm T1D1trực tiếp viết hóa đơn (Loại hóa đơn mua từ cơ quan thuế) để xác định số tiền điện phải thu để xuất cho khách hàng. Các xã viên của HTX chỉ thực hiện thu tiền điện từ nhóm khách hàng không sử dụng hóa đơn (tức thu tiền điện thông qua phiếu thu), còn với nhóm khách hàng sử dụng hóa đơn thì do Phạm T1D1thu. Tiền điện thu từ khách hàng do ông Quách Hoàng G quỹ và Phạm T1D1quản lý. Sau khi thực hiện thu xong tiền điện, HTX tổ chức họp toàn xã viên để công khai các khoản thu chi trong tháng tới toàn bộ xã viên và kết quả thu chi được

4

ghi chép tại sổ tay của Phạm T1D1 và kế toán B

Tại HTX, Phạm T1D1là người trực tiếp thực hiện việc kê khai về doanh thu phát sinh trong quý thông qua trang kê khai điện tử của cơ quan thuế. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, Phạm T1D1đã không lập, xuất hóa đơn và không kê khai toàn bộ doanh thu phát sinh thực tế của HTX. Đồng thời, cung cấp số liệu chi phí tiền lương cao hơn thực tế cho Nguyễn Thị N2là kế toán được thuê để lập sổ sách, báo cáo tài chính năm gửi cơ quan thuế dẫn đến việc N2xác định báo cáo sai số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp mà HTX có nghĩa vụ phải thực hiện với Nhà nước. Căn cứ các phiếu thu lưu trữ tại phần mềm EMAN, các hóa đơn GTGT đã xuất cho khách hàng. Số doanh thu thực tế của HTX từ năm 2018 đến 2022 như sau:

  • Năm 2018, doanh thu thực là 2.624.365.836 đồng, cao hơn tổng doanh thu kê khai là 38.384.650 đồng;
  • Năm 2019, doanh thu thực là 3.020.259.137 đồng, cao hơn tổng doanh thu kê khai là 36.805.861 đồng;
  • Năm 2020, doanh thu thực là 3.222.439.816 đồng, cao hơn tổng doanh thu kê khai là 137.709.519 đồng;
  • Năm 2021, doanh thu thực là 3.653.057.144 đồng, cao hơn tổng doanh thu kê khai là 258.893.942 đồng;
  • Năm 2022, doanh thu thực là 3.768.448.397 đồng, cao hơn tổng doanh thu kê khai là 59.224.902 đồng.

Căn cứ sổ ghi chép của Phạm T1D1bảng thanh toán lương có chữ ký của các xã viên. Số tiền lương chi trả cho xã viên các năm như sau:

  • Năm 2018 là: 237.895.000 đồng (Số tiền lương chi trả theo báo cáo tài chính là 540.000.000 đồng);
  • Năm 2019 là 290.115.000 đồng (Số tiền lương chi trả theo báo cáo tài chính là: 576.000.000 đồng);
  • Năm 2020 là 308.845.000 đồng (Số tiền lương chi trả theo báo cáo tài chính là 654.000.000 đồng);
  • Năm 2021 là 344.785.000 đồng (Số tiền lương chi trả theo báo cáo tài chính là 1.200.000.000 đồng);
  • Năm 2022 là 395.355.000 đồng (Số tiền lương chi trả theo báo cáo tài chính là 562.200.000 đồng).

Tại kết luận giám định ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Cục thuế tỉnh H“Số tiền thuế GTGT và TNDN Hợp tác xã Dkhông thực hiện với Nhà nước trong các năm 2018, 2019, 2020, 2021, 2022 tổng cộng là: 160.266.438 đồng” (Trong đó: thuế giá trị gia tăng là 69.478.628 đồng, thuế thu nhập doanh nghiệp là 90.747.810 đồng).

Tại Kết luận giám định số 241/KL-KTHS, ngày 04/6/2024 của Phòng K1Công an tỉnh H“Chữ ký tại các bảng thanh toán tiền lương các năm 2019 đến 2022 là của các xã

5

viên HTX".

Bản Cáo trạng số 59/CT-VKS-P1 ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Phạm T1D1về tội “Trốn thuế” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 200 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Cục T6

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm T1D1đã khai nhận: Do HTX còn nhiều khó khăn không đủ chi trả cho các hoạt động khác của HTX, chính vì vậy từ năm 2018 đến hết 2022, Phạm T1D1không kê khai đầy đủ toàn bộ doanh thu phát sinh với Chi cục thuế khu vực C Nhà nước thất thu số tiền thuế là 160.226.438đ (Một trăm sáu mươi triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn, bốn trăm ba mươi tám đồng). Trong đó: thuế giá trị gia tăng là 69.478.628 đồng, thuế thu nhập doanh nghiệp là 90.747.810 đồng. Đến nay bị cáo đã nộp đủ số tiền trên để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra. Ngoài ra Phạm T1D1lấy từ nguồn quỹ tiền mặt của HTX là 177.000.000₫ sau đó cho ông Q, ông Bùi Văn T1, ông Bùi A C13.000.000đ; Phạm Tiến D1vay số còn lại, trong khoảng thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 12/2022 Phạm T1D1vay của HTX số tiền 36.532.912đ từ khoản tiền của một số khách hàng chuyển tiền vào tài khoản cá nhân D1để thanh toán tiền điện. Việc vay mượn, đều được thông qua các cuộc họp nên các xã viên trong HTX đều biết.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa trình bày: Từ khi thành lập HTX B1 làm kế toán, Quách Hoàng G2giao làm thủ quỹ còn các xã viên khác được giao nhiệm vụ hàng tháng thu tiền điện của khách hàng sau đó về nộp cho thủ quỹ G3thực hiện kê khai với cơ quan thuế đều do P T1D1thực hiện và thực hiện như thế nào họ đều không biết. Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 12/2022 Phạm T1D1còn vay của HTX số tiền 36.532.912đ từ khoản tiền của một số khách hàng chuyển tiền vào tài khoản cá nhân D1để thanh toán tiền điện các xã viên HTX đều biết, còn số tiền 177.000.000₫ Phạm Tiến D1lấy từ nguồn tiền mặt của HTX sau đó cho ông Quách Hoàng G1, ông Bùi Văn T1, ông Bùi A C13.000.000đ, số còn lại Phạm Tiến D1vay, số tiền cho vay này đều được thông qua các cuộc họp nên các xã viên HTX đều biết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm T1D1phạm tội “Trốn thuế”;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền là hình phạt chính đối với Phạm T1D1từ 200.000.000 đồng - 250.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền do đã xử phạt phạt tiền là hình phạt chính.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu lưu hồ sơ vụ án các tài liệu chứng cứ thu giữ tại HTX Dịch vụ

6

điện năng xã Tliên quan đến hoạt động của HTX cần trả lại.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Phạm Tiến D1 phải nộp lại số tiền trốn thuế là 160.226.438 đồng để sung quỹ Nhà nước hiện nay đã khắc phục toàn bộ; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định nêu trên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh HViện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị N2 đại diện Chi cục thuế khu vực C1, tỉnh Hòa Bình(có đơn xin vắng mặt), HĐXX xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện nguyên đơn dân sự vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292, Điều 293, Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX thảo luận và quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[3] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với Kết luận giám định của Cục Tvà các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở kết luận: Sau khi được bàn giao lưới điện ReII để hoạt động, HTX dịch vụ điện năng xã Tđã ký hợp đồng mua điện từ Điện lực Cao Phong và Điện lực Kthông qua 05 trạm biến áp để phân phối bán lẻ điện năng tới các khách hàng trên địa bàn 13 xóm của xã TSố lượng công tơ của khách hàng được phát triển từ 888 công tơ lên 1.140 công tơ (gồm cả 03 pha và 01 pha). Trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh điện từ năm 2018 đến hết 2022, Phạm Tiến D1với tư cách là Giám đốc, người đại diện pháp luật của HTX dịch vụ điện năng xã T, xuất hóa đơn và kê khai đầy đủ toàn bộ doanh thu phát sinh thực tế của HTX với Chi cục thuế khu vực C4đến Nhà nước thất thu số tiền thuế là 160.226.438đ (Một trăm sáu mươi triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn, bốn trăm

7

ba mươi tám đồng). Trong đó: thuế giá trị gia tăng là 69.478.628 đồng, thuế thu nhập doanh nghiệp là 90.747.810 đồng.

[4] Phạm Tiến Dllà người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với cương vị là Giám đốc, người đại diện pháp luật của HTX, trực tiếp chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của HTX dịch vụ điện năng xã Tthực hiện các hành vi: Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp, không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa dịch vụ đối với các dịch vụ mua bán điện nhằm mục đích trốn thuế giá trị gia tăng với tổng số tiền trốn thuế là 160.226.438đ.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1, Điều 5, Điều 6 Luật Quản lý thuế. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm T1D1phạm tội “Trốn thuế” quy định tại điểm c khoản 1 điều 200 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Phạm Tiến D2 nguyện nộp số tiền trốn thuế để khắc phục hậu quả, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình công tác bị cáo đã có nhiều thành tích và được tặng thưởng nhiều giấy khen; bố mẹ bị cáo là người có công trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo cũng đã nộp lại số tiền trốn thuế, nhằm khắc phục thiệt hại đã gây ra cho Nhà nước. Đây là tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương để có cơ hội sữa chữa lỗi lầm và chăm sóc gia đình. HĐXX sẽ áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Tiến Dllà Giám đốc, người trực tiếp thực hiện việc kê khai về doanh thu phát sinh trong quý thông qua trang kê khai điện tử của cơ quan thuế. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, Phạm T1D1đã không lập, xuất hóa đơn và không kê khai toàn bộ doanh thu phát sinh thực tế của HTX. Đồng thời, cung cấp số liệu chi phí tiền lương cao hơn thực tế cho Nguyễn Thị N2là kế toán được thuê để lập sổ sách, báo cáo tài chính năm gửi cơ quan thuế dẫn đến việc N2xác định báo cáo sai số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp mà HTX có nghĩa vụ phải thực hiện với Nhà nước. Vậy buộc bị cáo có nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền trốn thuế 160.226.438đ (Một trăm sáu mươi triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn, bốn trăm ba mươi tám đồng). Bị cáo Phạm Tiến D2 nguyện nộp đủ số tiền trên tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Hgiấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước ngày 05/6/2024 và ngày 01/7/2024. Vì vậy, cần chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo.

8

[7] Về xử lý vật chứng: Các tài liệu thu giữ từ HTX Dịch vụ điện năng xã T, chứng cứ làm căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu lưu hồ sơ vụ án gồm: Dữ liệu điện tử thu từ tài khoản Z danh sách khách hàng từ tháng 1 đến tháng 12 các năm 2018 - 2022; Hợp đồng mua bán điện giữa HTX và khách hàng; Hóa đơn giá trị gia tăng xuất bán cho khách hàng; Sổ ghi chép; Sổ mua hóa đơn; sao kê tài khoản HTX; sổ chốt công tơ; sổ thanh toán lương; Chứng từ năm 2018, 2019, 2020, 2021, 2022; sao kê tài khoản cá nhân P

Các tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh của HTX nên trả lại cho HTX lưu giữ theo quy định gồm: Giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu dấu, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp tác xã số 25K.07.00004, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã số 25K.07.00024, giấy phép hoạt động điện lực số 11/GP - SCT ngày cấp 18/01/2023, biên bản họp Hợp tác xã số 02/HTX/2020 ngày 22/1/2020, nghị quyết Hợp tác xã số 07/NQ- HTX ngày 04/6/2015, quyết định số 182/QĐ- SCT ngày 11/10/2022 của Sở công thương tỉnh H kiểm tra tình hình đầu tư nâng cấp, cải tạo và hiện trạng lưới điện của các Đơn vị quản lý điện nông thôn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình (Tất cả các tài liệu trên đều là bản gốc)

Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức phạt đề nghị là thỏa đáng nên được chấp nhận.

[8] Ngoài hành vi không kê khai đối với số tiền điện thu từ khách hàng, quá trình điều tra phát hiện bị cáo Phạm T2 D2hành vi thu tiền lắp đặt điện với những khách hàng phát sinh mới. Khoản tiền này nằm trong tổng số tiền khách hàng thỏa thuận thuê Phạm T1D1lắp đặt và kéo điện từ cột tới công tơ tổng của khách hàng. Việc thanh toán được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản tới tài khoản của Phạm T2 D3cứ sao kê tài khoản, lời khai của P T1D1xác định tổng số tiền lắp đặt điện mới là 17.200.000đ (Mười bảy triệu hai trăm nghìn đồng), được Phạm T1D1sử dụng để mua vật tư, chi trả tiền công lắp đặt cho các xã viên. Số tiền này để ngoài sổ sách, không được Phạm T1D1hạch toán theo dõi đúng quy định, có dấu hiệu hành vi khách quan của tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 221 Bộ luật Hình sự, nhưng không đủ định lượng về hậu quả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Htruy tố Phạm T1D1về tội này là có căn cứ.

Trong quá trình điều hành hoạt động của HTX, có một số khách hàng chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của Phạm T1D1để thanh toán tiền điện. Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 12/2022, Phạm T1D1đã sử dụng 36.532.912đ (Ba mươi sáu triệu, năm trăm ba mươi hai nghìn chín trăm mười hai đồng) từ nguồn tiền này cho mục đích cá nhân nhưng sau đó đã nộp hoàn trả lại vào tài khoản của HTX. Ngoài ra, Phạm T1D1còn sử dụng 177.000.000đ (Một trăm bảy mươi bảy triệu đồng) từ nguồn tiền mặt

9

của HTX vào việc: cho ông Quách H G4thủ quỹ của HTX vay 41.000.000₫ (Bốn mươi mốt triệu đồng); ông Bùi Văn T3 toán của HTX vay 10.000.000₫ (Mười triệu đồng); ông Bùi A Clxã viên vay 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng); bản thân Phạm Tiến D1vay số tiền 154.000.000đ (Một trăm năm mươi tư triệu đồng). Việc vay mượn, xã viên trong HTX có biết sự việc này. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hkhông xem xét trách nhiệm hình sự đối với Phạm T1D1về hành vi trên là có căn cứ.

Đối với trường hợp kế toán Bùi Văn TThủ quỹ Quách Hoàng G4xã viên được giao nhiệm vụ thu, quản lý nguồn tiền điện thu của khách hàng. Nhưng thực tế tất cả các khoản thu tiền điện đều do P T1D1quản lý, thực hiện kê khai với cơ quan thuế. B2 G5được Phạm T1D1cho biết việc trốn không kê khai đầy đủ doanh thu, chi phí với cơ quan thuế nên không đủ căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự trong vụ án này.

Đối với Nguyễn Thị N2là kế toán được Phạm T1D1thuê theo thời vụ để thực hiện hạch toán các chứng từ, hóa đơn mà D1cung cấp vào các tài khoản kế toán theo quy định; bản thân Nguyễn Thị N2không biết, không tham gia vào hoạt động của HTX. Do đó, không có căn cứ để xác định là đồng phạm với Phạm T1D1về hành vi trốn thuế.

Đối với Chi cục thuế khu vực C1TCăn cứ kế hoạch kiểm tra thuế của Cục thuế tỉnh HChi cục thuế khu vực C1Tthực hiện kiểm tra việc chấp hành thuế của HTX Dcác năm từ 2016 đến 2022. Căn cứ quy định tại Điều 112, Luật Quản lý thuế 2019, công chức thuế có quyền hạn được yêu cầu người nộp thuế cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung kiểm tra thuế. Quá trình kiểm tra cơ quan thuế đã yêu cầu HTX cung cấp chứng từ, sổ sách kế toán nhưng không đề nghị cung cấp danh sách khách hàng, phiếu thu tiền điện của từng hộ gia đình để làm rõ giá trị ghi trên các hóa đơn xuất gộp cho khách hàng lẻ, do đó không phát hiện ra hành vi trốn thuế của bị can Phạm Tiến D1Tuy nhiên, do quy trình kiểm tra thuế tại Quyết định 746/QĐ-TCT ngày 20/4/2015 và Quyết định 970/QĐ-TCT ngày 14/7/2023 của Tổng cục trưởng Tổng cục T7 ban hành quy trình kiểm tra thuế không có quy định cụ thể về danh mục tài liệu mà người nộp thuế có trách nhiệm cung cấp khi kiểm tra, nên không có căn cứ để xác định dấu hiệu tội phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra việc chấp hành thuế của Chi cục thuế khu vực C1tại HT11

Đối với ông V4quá trình giải quyết vụ án xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nhưng tại phiên tòa HĐXX thấy những người này không bị xâm phạm đến quyền lợi và nghĩa vụ nên HĐXX thay đổi tư cách là người làm chứng trong vụ án.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo theo quy định.

[10] Kiến nghị: C5Tcần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc nộp thuế của các doanh nghiệp và các HTX trên địa bàn để tránh xảy ra sai phạm bị xử lý về hình sự.

Vì các lẽ trên;

10

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 200, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Tiến D1 phạm tội “Trốn thuế”.
  2. Về hình phạt: Phạt bị cáo Phạm Tiến D3(Hai trăm triệu đồng).
  3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Tiến D4 số tiền đã trốn thuế là 160.226.438đ (Một trăm sáu mươi triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn, bốn trăm ba mươi tám đồng) để sung ngân sách Nhà nước (do Chi cục thuế khu vực C1Tđại diện quản lý).
  4. Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Phạm Tiến D5 đủ số tiền 160.226.438đ (Một trăm sáu mươi triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn, bốn trăm ba mươi tám đồng) tại Kho bạc Nhà nước tỉnh H giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước ngày 05/6/2024 và ngày 01/7/2024.

  5. Về xử lý vật chứng: Tịch thu lưu hồ sơ vụ án gồm: Dữ liệu điện tử thu từ tài khoản ZD1danh sách khách hàng từ tháng 1 đến tháng 12 các năm 2018 - 2022; Hợp đồng mua bán điện giữa HTX và khách hàng; Hóa đơn giá trị gia tăng xuất bán cho khách hàng; Sổ ghi chép; sổ mua hóa đơn; sao kê tài khoản HTX; sổ chốt công tơ; sổ thanh toán lương; Chứng từ năm 2018, 2019, 2020, 2021, 2022; sao kê tài khoản cá nhân Phạm Tiến D1.
  6. Trả lại cho HTX dịch vụ điện năng xã T đã đăng ký mẫu dấu, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp tác xã số 25K.07.00004, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã số 25K.07.00024, giấy phép hoạt động điện lực số 11/GP - SCT ngày cấp 18/01/2023, biên bản họp Hợp tác xã số 02/HTX/2020 ngày 22/1/2020, nghị quyết Hợp tác xã số 07/NQ- HTX ngày 04/6/2015, quyết định số 182/QĐ- SCT ngày 11/10/2022 của Sở công thương tỉnh H kiểm tra tình hình đầu tư nâng cấp, cải tạo và hiện trạng lưới điện của các Đơn vị quản lý điện nông thôn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình (Tất cả các tài liệu trên đều là bản gốc)

  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

11

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở Tư pháp Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Cao Phong;
  • - THADS huyện Cao Phong;
  • - Công an tỉnh Hòa Bình;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBKT huyện Cao Phong;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự sơ thẩm (tội trốn thuế)

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Trốn thuế)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Từ năm 2018 đến hết 2022, Phạm Tiến Dũng không kê khai đầy đủ toàn bộ doanh thu phát sinh với Chi cục thuế khu vực Cao Phong - Tân Lạc, dẫn đến Nhà nước thất thu số tiền thuế là 160.226.438đ (Một trăm sáu mươi triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn, bốn trăm ba mươi tám đồng). Trong đó: thuế giá trị gia tăng là 69.478.628 đồng, thuế thu nhập doanh nghiệp là 90.747.810 đồng. Đến nay bị cáo đã nộp đủ số tiền trên để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger