Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẠCH THÔNG

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày: 27/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ma Thị Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Đào và bà Nông Thị Huyền

Thư ký phiên tòa: Ông Lý Sinh Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Dư - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS, ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Đức N (tên gọi khác: Không). Sinh ngày 25/6/1987 tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Vi Thị L; vợ là Lương Thị T1, con: 01 con (sinh năm 2012); tiền sự: Không. tiền án: 01, ngày 18/8/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 (M) tháng tù về tội “Đánh bạc” – Bản án số 38/2019/HS-ST, đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền.
  2. Nhân thân: Tại Bản án số 39/2009/HS-ST, ngày 21/7/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cướng giật tài sản” – Đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí ngày 29/8/2010.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh B cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  3. Trần Văn T2 (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 06/4/1993 tại huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Trần Thị S; vợ là Trần Thị Thanh N1, con: 02 con (lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang được gia đình nuôi ăn học đến lớp 12/12 thì nghỉ học ở nhà lao động tự do, trưởng thành xây dựng gia đình và sinh sống tại địa phương đến nay. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện B cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  1. Nguyễn Đình T3 (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 04/8/1993 tại huyện V, tỉnh Bắc Giang. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn M, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Đ và bà Nguyễn Thị M1; vợ là Lương Thị L1, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang được gia đình nuôi ăn học đến lớp 12/12 thì nghỉ học ở nhà lao động tự do, trưởng thành xây dựng gia đình và sinh sống tại địa phương đến nay. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh B cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  1. Dương Văn M3 (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 05/01/1991 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H1 và bà Lâm Thị T4; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/6/2016 bị Công an khu Công nghiệp Q, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh B cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Phạm Công C, sinh năm 2000. Có mặt

Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Nguyễn Văn N2, sinh năm 1984. Có mặt
  • Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bà Trần Thị S, sinh năm 1966. Có mặt
  • Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
  • - Chị Lương Thị T1, sinh năm 1991. Có mặt
  • Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 14/6/2024, Phòng An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Công an tỉnh B tiếp nhận đơn tố giác của Phạm Công C, sinh năm 2000 trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn trình báo về việc: Ngày 29/5/2024, C lên mạng xã hội Facebook thấy tài khoản “Phát điện” (ID 100094181472686), đăng bài bán máy làm lốp xe máy với giá 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng), Facebook này đăng bài kèm số điện thoại 0824.635.xxx. Do đang có nhu cầu mua máy nên C sử dụng số điện thoại 0849.480.xxx gọi cho số 0824.635.505. Qua nói chuyện người sử dụng số điện thoại 0824.635.xxx bảo C kết bạn Zalo có tên “Chuyên Máy Nhật B”. Sau đó C nhắn tin với Z “Chuyên Máy Nhật Bãi” hỏi thông tin về máy làm lốp và thỏa thuận giá mua máy là 7.000.000đ (bảy triệu đồng) với phương thức thanh toán chuyển tiền trước và gửi, nhận hàng qua xe khách, C chuyển khoản số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) vào tài khoản 0731000647138 Ngân hàng V mang tên TRAN VAN THONG. Sau đó Z tên “Chuyên Máy Nhật B” và số điện thoại 0948.960.xxx là xe khách đã chặn liên lạc với C.

Sau khi tiếp nhận đơn tố giác, Phòng An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Công an tỉnh B đã chuyển nguồn tin về tội phạm trên và tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 08 giờ, ngày 29/5/2024, Trần Văn T2, sinh năm 1993 trú tại thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đến quán I thuộc tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang chơi game thì gặp Hoàng Đức N; Dương Văn M3 và Nguyễn Đình T3 cũng đang chơi game trong quán. Sau đó T2 đăng nhập tài khoản Facebook “Phát Điện” mà T2 lập để đăng bán các loại máy móc cơ khí, máy hàn...trên các hội nhóm mạng xã hội Facebook để lừa lấy tiền đặt cọc của khách hàng (thực tế không có máy móc để bán như đã quảng cáo), thì có một tài khoản Facebook “Phạm Công C” nhắn tin hỏi mua máy làm lốp xe và hỏi số điện thoại của T2. Thống mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel của Dương Văn M3 để lắp sim thuê bao số 0824.635.505 với mục đích sử dụng phục vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, sau đó Phạm Công C gọi điện thoại vào số 0824.635.xxx của T2 để hỏi mua máy làm lốp xe. Thống yêu cầu C kết bạn Z với Z “Chuyên Máy Nhật Bãi” của Hoàng Đức N để N nhắn tin tư vấn, trao đổi về giá cả chiếc máy làm lốp xe. Ngôn sử dụng máy tính tại quán I để nhắn tin, trao đổi với C thì C đồng ý mua chiếc máy làm lốp xe mô tô với giá 7.000.000đ (bảy triệu đồng), N nhắn số tài khoản của Trần Văn T2 cho C để yêu cầu chuyển tiền đặt cọc mua máy, còn máy làm lốp thì thống nhất vận chuyển qua xe khách về Bắc Kạn nên T2 bảo N nhắn số điện thoại giả làm nhà xe khách cho C là 0948.960.904. Sau đó C chuyển số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) vào số tài khoản Ngân hàng V số 0731000647138 đứng tên Trần Văn T2 để chuyển tiền đặt cọc mua máy làm lốp xe, tiếp đó T2 bảo Nguyễn Đình T3 sử dụng số điện thoại 0948.960.xxx, nói khi nào có người gọi đến thì giả làm nhà xe khách

đang vận chuyển chiếc máy làm lốp về Bắc Kạn nhằm tạo lòng tin đối với C. Lúc đó chiếc sim thuê bao 0948.960.904 đang được Tuấn lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12, khi C gọi vào sim thuê bao 0948.960.904 hỏi chiếc máy làm lốp thì T3 trả lời máy đã được đưa lên xe, đang vận chuyển lên Bắc Kạn. Khi T2 nhận được số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) do C chuyển vào tài khoản đặt cọc mua máy làm lốp thì Thống, N, T3 chặn liên lạc với C. Thống chia cho Hoàng Đức N số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) bằng hình thức chuyển vào số tài khoản 214321005 của N mở tại ngân hàng B2, chia cho Nguyễn Đình T3 số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bằng hình thức chuyển vào số tài khoản 101877289759 của T3 mở tại ngân hàng V1, chia cho Dương Văn M3 số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) bằng hình thức đưa tiền mặt do M3 không có số tài khoản ngân hàng. Đến buổi trưa cùng ngày thì T2 đưa số tiền 120.000đ (Một trăm hai mươi nghìn đồng) để M3 đi mua cơm cho bốn người cùng ăn, số tiền còn lại 3.380.000₫ T2 là người được hưởng. Số tiền mà T2, N, T3, M3 chiếm đoạt được của Phạm Công C các bị cáo tiêu dùng cá nhân hết.

Trước đó, Trần Văn T2, Hoàng Đức N, Nguyễn Đình T3 đã nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với phương thức, thủ đoạn tượng tự như trên, cụ thể: Năm 2023, Trần Văn T2; Hoàng Đức N; Nguyễn Đình T3 và Dương Văn M3 quen biết nhau khi cùng chơi game tại quán Internet Định T5 tại tổ M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng tháng 5/2023 Trần Văn T2 và Hoàng Đức N thấy một người tên Triệu Thành Đ1 trú tại tỉnh Lạng Sơn (không rõ địa chỉ cụ thể ở đâu), lập tài khoản Facebook rồi đăng bài bán các mặt hàng cơ khí... trên hội nhóm mạng xã hội Facebook để lừa đảo chiếm đoạt số tiền đặt cọc của khách hàng. Thấy vậy T2, N cũng học cách làm theo, trong đó:

Trần Văn T2 lập tài khoản Facebook tên “Phát Điện” đăng bán một số máy móc như củ phát, máy hàn, máy phát điện (kèm theo hình ảnh)...trên các trang hội nhóm mạng xã hội Facebook, kèm số điện thoại 0824.635.xxx để khách liên hệ. Khi có khách hàng hỏi mua thì trao đổi giá, hình thức thanh toán, trả tiền thông qua tin nhắn Messenger hoặc nhờ N kết bạn Zalo với khách để nói chuyện, có lúc thì nhờ T3 hoặc Ngôn để giả làm nhà xe chuyển hàng cho khách hàng...Nếu khách hàng đồng ý mua hàng thì T2 yêu cầu chuyển tiền đặt cọc hoặc toàn bộ giá trị hàng hóa đó vào số tài khoản 0731000647138 Ngân hàng V mang tên TRAN VAN TH, rồi T2 chặn liên lạc với khách hàng để chiếm đoạt số tiền đó. Khi lắp sim thuê bao số 0824.635.505 thì T2 thường xuyên mượn điện thoại của Dương Văn M3 để sử dụng vào mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trước khi mượn và trong quá trình mượn M3 đều biết việc T2 mượn điện thoại để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng M3 vẫn đồng ý. Vì khi thực hiện hành vi lừa đảo xong thì T2 có lúc đưa tiền mặt cho M3, có lúc mua cơm, nước hoặc trả tiền chơi game cho M3. Còn Hoàng Đức N sử dụng tài khoản Facebook tên “Ken Hlls” đăng bán một số máy móc như củ phát, máy hàn, máy phát điện (kèm theo hình ảnh)... trên các trang hội nhóm mạng xã hội Facebook. Khi có khách hỏi mua thì trao đổi giá, hình thức thanh toán, trả tiền qua tin nhắn Messenger hoặc zalo. Nếu khách hàng đồng ý mua thì N yêu cầu chuyển tiền đặt

cọc hoặc toàn bộ giá trị hàng hóa vào số tài khoản 214321005 ngân hàng BIDV của N, sau đó N chặn liên lạc với khách hàng để chiếm đoạt số tiền đó. Quá trình thực hiện hành vi lừa đảo, có lúc N cũng mượn điện thoại của Dương Văn M3 phục vụ việc thực hiện lừa đảo, lúc đó M3 cũng biết và đồng ý cho mượn. Đến cuối năm 2023, Nguyễn Đình T3 cũng học theo Trần Văn T2 và Hoàng Đức N để lừa đảo chiếm đoạt tiền đặt cọc của khách hàng, T3 sử dụng tài khoản Facebook tên “Nông Cơ Anh T6” để đăng bán các loại máy cơ khí, máy hàn (kèm theo hình ảnh)...trên các trang hội nhóm mạng xã hội Facebook. Khi có khách hàng hỏi mua thì trao đổi giá, hình thức thanh toán, trả tiền qua tin nhắn Messenger hoặc zalo. Nếu khách hàng đồng ý mua hàng thì T3 yêu cầu chuyển tiền đặt cọc hoặc toàn bộ giá trị hàng vào số tài khoản 101877289759 của T3 mở tại ngân hàng V1, sau đó T3 chặn liên lạc với khách hàng để chiếm đoạt số tiền đó.

Quá trình điều tra xác định Trần Văn T2, Hoàng Đức N, Nguyễn Đình T3 chủ yếu thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng, tuy nhiên có vụ thì các bị cáo giúp sức, hỗ trợ nhau để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền đặt cọc mua hàng của khách hàng, thực tế các bị cáo không có hàng hóa gì để bán như đã quảng cáo. Còn Dương Văn M3 cho Trần Văn T2, Hoàng Đức N mượn điện thoại để lắp sim điện thoại, vào mạng xã hội phục vụ thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bản thân M3 biết T2, N sử dụng điện thoại của M3 để thực hiện hành vi lừa đảo nhưng vẫn đồng ý cho mượn do được hưởng lợi.

Đối với các bị hại mà Trần Văn T2, Hoàng Đức N, Nguyễn Đình T3 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong khoảng thời gian từ tháng 5/2023 đến khoảng tháng 6/2024: Ngày 03/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra thông báo tìm bị hại gửi đến Công an các đơn vị địa phương và thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên đến nay, không nhận được phản hồi và không có công dân nào trình báo liên quan đến hành vi lừa đảo của Trần Văn T2, Hoàng Đức N, Nguyễn Đình T3. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đề nghị tách xử lý sau nếu có bị hại liên quan trình báo.

Quá trình điều tra, Trần Văn T2, Hoàng Đức N, Nguyễn Đình T3 và Dương Văn M3 đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKSBT ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Hoàng Đức N, Trần Văn T2, Nguyễn Đình T3 và Dương Văn M3 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng....,thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng ... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông giữ nguyên nội dung truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị tuyên bố bị cáo Hoàng Đức N, Trần Văn T2, Nguyễn Đình T3 và Dương Văn M3 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

* Về Hình phạt:

  1. Áp dụng khoản 1, Điều 174; Điều 17; Điều 38; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Hoàng Đức N T7 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.

    * Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

  3. Áp dụng khoản 1, Điều 174; Điều 17; Điều 38; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn T2 từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2024.

    * Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

  4. Áp dụng khoản 1, Điều 174; Điều 17; Điều 38; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  5. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T3 từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.

    * Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

  6. Áp dụng khoản 1, Điều 174; Điều 17; Điều 38; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  7. Xử phạt bị cáo Dương Văn M3 từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.

    * Hình phạt bổ sung: Không áp dụng

* Về xử lý vật chứng và các tài sản thu giữ trong vụ án: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.

Tịch thu, hóa giá sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12, màu xanh da trời, màn hình cảm ứng, cũ đã qua sử dụng, có số seri: RF8T50FYNWZ; IMEI: 358581284365936; IMEI:

359402874365930 của Nguyễn Đình T3 – được niêm phong trong phong bì và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL 5602 màu trắng, loại bàn phím cứng, đã qua sử dụng có số IMEI: 354271081998063 và IMEI: 354271081998071 của Dương Văn M3 - được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M1"

- Trả lại cho Trần Văn T2: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xám, màn hình cảm ứng, cũ đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 352839114975910; IMEI 2: 352839114889087; số sêri: FK1D92XVN70C – được niêm phong trong phong bì, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho Trần Văn T2.

- Trả lại cho Hoàng Đức N: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu đen, màn hình cảm ứng, thân thẳng, đã qua sử dụng, số máy MU773VN/A; số seri L722L47TLD; số IMEI 350492190590815, IMEI2 350492190807987 – được niêm phong trong phong bì, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho Hoàng Đức N.

- Trả lại cho Hoàng Đức N: 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Đức N; và 01 thẻ sim thuê bao số 0383.000.675 của nhà mạng Viettel được gắn trong điện thoại Iphone 15 Pro Max, màu đen;

- Tạm giữ số tiền 610.000 đồng (Sáu trăm mười nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Ng 2” để đảm bảo thi hành án cho Hoàng Đức N.

- Trả lại cho Dương Văn M3: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY NOTE 9 màu đen, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng có số IMEI: 352141103253239 và IMEI: 352142103253237 – được niêm phong trong phong bì, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo M3.

- Trả lại cho Nguyễn Đình T3: 01 (một) thẻ ngân hàng V2 (N) mang tên NGUYEN ĐỊNH T, số 9704150136196121 - được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T”.

Các vật chứng là thẻ sim điện thoại, phong bì niên phong kèm theo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy gồm: 01 (một) thẻ sim điện thoại gắn trên điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu xám (mật khẩu mở khóa màn hình: 2801) số thuê bao: 0967448303 nhà mạng Viettel và 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T”, đều được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Thống”; 02 sim điện thoại lắp trên 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY NOTE 9 màu đen, sim thuê bao số 0836.438.932 và thuê bao số 0833.159.712 đều của nhà mạng Vinaphone; 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “Đồ vật, tài liệu của Dương Văn M3”, đều được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M1”; 01 (một) thẻ sim của nhà mạng Mobifone, một mặt ghi số 8401, 2302, 2410, 5749; 01 (một) thẻ sim không rõ nhà mạng, một mặt ghi số 8401, 2305, 2404, 6803; 01 (một) thẻ sim của nhà mạng Vinaphone, một mặt ghi số [...], 11636608505; 01 (một) thẻ sim của nhà mạng V3, một mặt ghi số 8984, 04800, 03890, 79700 và 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu, đều được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Ngôn” và 02 (hai) thẻ sim số thuê bao gồm: 0799.513.332 nhà mạng M2 và 0948.906.904 nhà mạng Vinaphone gắn trên điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “T1”, đều được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T”.

Đối với sim thuê bao số 0824.635.505: Trần Văn T2 trình bày đã bị rơi mất, không rõ ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không thu giữ được.

Tạm giữ số tiền 610.000 đồng (Sáu trăm mười nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Ngôn 2”, để đảm bảo thi hành án cho Hoàng Đức N.

- Tạm giữ số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) theo biên lai số 0001067, ngày 13/9/2024 và 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001073, ngày 27/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bạch Thông để đảm bảo thi hành án cho Trần Văn T2.

  1. Hình phạt bổ sung:
    • - Đối với Hoàng Đức N và Trần Văn T2 xác minh tại địa phương Ngôn, T2 không có tài sản chung, riêng gì, không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng trong vụ án này, N có tài sản thuộc sở hữu riêng là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu đen, màn hình cảm ứng, thân thẳng, đã qua sử dụng và Trần Văn T2 có tài sản thuộc sở hữu riêng là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xám, màn hình cảm ứng, cũ đã qua sử dụng – đều còn giá trị sử dụng. Đồng thời, các bị cáo đang trong độ tuổi lao động, hành vi của các bị cáo thực hiện nhằm mục đích thu lợi bất chính gây bất bình dư luận, cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng một khoản tiền mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, có tính răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo N đề nghị miễn hình phạt bổ sung và trả lại tài sản là điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max là không có căn cứ, nên HĐXX không chấp nhận.
    • - Đối với bị cáo Nguyễn Văn T9 và bị cáo Dương Văn M xác M3 tại địa phương T9, M3 không có tài sản chung, riêng gì, không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các bị cáo đều lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên việc áp dụng hình phạt bổ sung không khả thi, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T9 và bị cáo M3.
  2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136/BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố các bị cáo Hoàng Đức N, Trần Văn T2, Nguyễn Đình T3 và Dương Văn M3 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  1. Áp dụng khoản 1, Điều 174; Điều 17; Điều 38; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Hoàng Đức N: 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.

    * Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5, Điều 174 của Bộ luật hình sự.

    Phạt tiền bị cáo N: 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

  3. Áp dụng khoản 1, Điều 174; Điều 17; Điều 38; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T2: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2024.

* Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5, Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Phạt tiền bị cáo T2: 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

  1. Áp dụng khoản 1, Điều 174; Điều 17; Điều 38; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T3: 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.

    * Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

  3. Áp dụng khoản 1, Điều 174; Điều 17; Điều 38; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
  4. Xử phạt bị cáo Dương Văn M3: 07 (B1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.

    * Hình phạt bổ sung: Không áp dụng

* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48/BLHS, Điều 584; 585; 586, 590/BLDS.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa các bị cáo và bị hại, cụ thể như sau: Hoàng Đức N và Trần Văn T2 tự nguyện bồi thường cho bị hại Phạm Công C số tiền là 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng), trong đó N đã bồi thường xong (qua vợ là Lương Thị T1 chuyển khoản trực tiếp cho anh C là 3.000.000 đồng), số tiền còn lại 4.000.000 đồng do Trần Văn T2 có nghĩa vụ bồi thường - hiện số tiền này đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bạch Thông theo biên lai thu số 0001067, ngày 13/9/2024.

* Về xử lý vật chứng và các tài sản thu giữ trong vụ án:

Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.

Tịch thu, hóa giá sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12, màu xanh da trời, màn hình cảm ứng, cũ đã qua sử dụng, có số seri: RF8T50FYNWZ; IMEI: 358581284365936; IMEI: 359402874365930 của Nguyễn Đình T3 – được niêm phong trong phong bì và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL 5602 màu trắng, loại bàn phím cứng, đã qua sử dụng có số IMEI: 354271081998063 và IMEI: 354271081998071 của Dương Văn M3 - được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M1”

- Trả lại cho Trần Văn T2: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xám, màn hình cảm ứng, cũ đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 352839114975910; IMEI 2: 352839114889087; số sêri: FK1D92XVN70C – được niêm phong trong phong bì, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho Trần Văn T2.

- Trả lại cho Hoàng Đức N: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu đen, màn hình cảm ứng, thân thẳng, đã qua sử dụng, số máy MU773VN/A; số seri L722L47TLD; số IMEI 350492190590815, IMEI2 350492190807987 – được niêm phong trong phong bì, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho Hoàng Đức N.

- Trả lại cho Hoàng Đức N: 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Đức N; và 01 thẻ sim thuê bao số 0383.000.675 của nhà mạng Viettel được gắn trong điện thoại Iphone 15 Pro Max, màu đen;

- Tạm giữ số tiền 610.000 đồng (Sáu trăm mười nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Ng 2” để đảm bảo thi hành án cho Hoàng Đức N.

- Trả lại cho Dương Văn M3: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY NOTE 9 màu đen, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng có số IMEI: 352141103253239 và IMEI: 352142103253237 – được niêm phong trong phong bì, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo M3.

- Trả lại cho Nguyễn Đình T3: 01 (một) thẻ ngân hàng V2 (N) mang tên NGUYEN ĐINH T, số 9704150136196121 - được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T”.

Các vật chứng là thẻ sim điện thoại, phong bì niên phong kèm theo không còn giá trị sử dụng tịch thu, tiêu hủy gồm: 01 (một) thẻ sim điện thoại gắn trên điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu xám (mật khẩu mở khóa màn hình: 2801) số thuê bao: 0967448303 nhà mạng Viettel và 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T”, đều được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Thống”; 02 sim điện thoại lắp trên 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY NOTE 9 màu đen, sim thuê bao số 0836.438.932 và thuê bao số 0833.159.712 đều của nhà mạng Vinaphone; 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “Đồ vật, tài liệu của Dương Văn M3”, đều được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M1”; 01 (một) thẻ sim của nhà mạng Mobifone, một mặt ghi số 8401, 2302, 2410, 5749; 01 (một) thẻ sim không rõ nhà mạng, một mặt ghi số 8401, 2305, 2404, 6803; 01 (một) thẻ sim của nhà mạng Vinaphone, một mặt ghi số [...], 11636608505; 01 (một) thẻ sim của nhà mạng V3, một mặt ghi số 8984, 04800, 03890, 79700 và 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu, đều được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Ngôn” và 02 (hai) thẻ sim số thuê bao gồm: 0799.513.332 nhà mạng M2 và 0948.906.904 nhà mạng Vinaphone gắn trên điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “T1”, đều được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T”.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 01/10/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông)

- Tạm giữ số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) theo biên lai số 0001067, ngày 13/9/2024 và 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001073, ngày 27/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bạch Thông để đảm bảo thi hành án cho Trần Văn T2.

* Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136/BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Hoàng Đức N, Trần Văn T2, Nguyễn Đình T3 và Dương Văn M3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND H.Bạch Thông 1;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn 1;
  • - CA huyện Bạch Thông 2;
  • - Bị cáo 4;
  • - Bị hại 3;
  • - Người CQLNVL 1;
  • - TA tỉnh Bắc Kạn 1;
  • - Sở tư pháp 1;
  • - THADS 1;
  • - Lưu HSVA, lưu trữ ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Ma Thị Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đức N và đồng phạm - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger