TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỀN TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày: 25-11-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN,TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đình Phúc và bà Đoàn Thị Chuyền
Thư ký Tòa án: Ông Vũ Cao Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuê - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh năm 1968 tại Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn X (đã chết) và bà Trần Thị Đ; có vợ là Lưu Thị O và 03 con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người tham gia tố tụng khác:
- * Bị hại: Ông Vũ Văn V, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương (đã chết).
- * Những người đại diện hợp pháp cho người bị hại:
- + Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- + Anh Vũ Văn M, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- + Chị Vũ Thị Y, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- (Anh Vũ Văn M và chị Vũ Thị Y ủy quyền cho bà Nguyễn Thị P tham gia tố tụng - bà Phước có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vắng mặt tại phiên tòa).
- * Người làm chứng:
- + Bà Hoàng Thị T1.
- + Ông An Văn C.
- * Người chứng kiến: Ông An Văn B.
- (Toàn bộ người làm chứng và người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn T có giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 18/10/2016, có giá trị không thời hạn. Khoảng 15 giờ ngày 25/6/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave an pha, màu sơn đỏ-đen-bạc, biển số 34F1-327.50 đi một mình từ từ nhà tại thôn C ra quốc lộ C rồi di chuyển theo hướng Hưng Yên đi thi trấn Thanh Miện ở phần đường bên phải theo chiều đi của mình với vận tốc trung bình khoảng 35 đến 40 km/h. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi tới Km15+700 quốc lộ C cách nơi giao cắt với đường X thuộc Đ, thôn G, xã T, huyện T ở phía bên phải theo chiều đi của T khoảng 10,5m, T điều khiển xe đi với vận tốc xác định được từ 36,72 đến 39,06 km/h. Cùng lúc này, tại khu vực đầu đường X giao với quốc lộ C có ông Vũ Văn V đang đi bộ dong xe đạp tiến gần đến mép đường C. Phạm Văn T đã quan sát thấy ông V đứng giữ xe đạp ở khu vực nơi giao cắt giữa đường xóm và quốc lộ C nhưng vẫn điều khiển xe mô tô giữ vận tốc bình thường. Ngay lúc đó, ông V sau khi quan sát hai bên đã dong xe đạp chạy thẳng ra quốc lộ C để sang đường, dẫn tới Phạm Văn T không kịp phanh, đã để đầu xe mô tô va chạm vào ngang khu vực bánh trước bên trái xe đạp của ông V khiến T, ông V, xe mô tô và xe đạp đều ngã, đổ ra đường. Sau khi tai nạn xảy ra, T cùng ông V được người dân đưa đến Trung tâm y tế huyện T sơ cấp cứu, nhưng T chỉ bị sây sát nhẹ còn ông V được đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H đến ngày 15/7/2024. Do không cứu chữa được nên ông V tử vong vào hồi 15 giờ 30 phút, ngày 17/7/2024.
Tại Kết luận giám định tử thi số 217/KLGĐTT-KTHS ban hành ngày 27/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận ông Vũ Văn V: Đồng tử hai mắt giãn rộng, kết mạc hai mắt nhợt. Vết mổ sọ não vùng trán đỉnh thái dương phải để lại vùng khuyết xương vùng trán. Não phù, sung huyết, xuất huyết dưới nhện. Khe khớp thái dương tại mảnh xương sọ được lấy ra trong quá trình phẫu thuật ngấm máu. Sây sát da đã đóng vảy rải rác cơ thể. Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não điều trị không hồi phục.
Tại Kết luận giám định số 186/KL-KLGĐ ngày 15/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Cơ chế hình thành dấu vết giữa xe mô tô biển kiểm soát 34F1-327.50 và xe đạp do ông Vũ Văn V điều khiển:
- Điểm va chạm: Trên mặt ngoài đầu chắn bùn phía trước xe mô tô va chạm với mép dưới giỏ xe bên trái xe đạp do ông Vũ Văn V điều khiển, là phù hợp.
- Chiều hướng dấu vết va chạm: Dấu vết va chạm trên xe mô tô có chiều từ trước về sau. Dấu vết va chạm trên xe đạp do ông Vũ Văn V điều khiển có chiều từ trái sang phải.
Tại Kết luận giám định số 5968/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của V1 - Bộ C1 kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file video gửi giám định. Tốc độ của chiếc mô tô (màu đỏ, biển kiểm soát: 34F1-327.50 - theo nội dung vụ án) trước khi xảy ra tai nạn giao thông: 36,72 km/h đến 39,06 km/h.
Ngày 11/9/2024, bị cáo và những người đại diện hợp pháp cho người bị hại đã thỏa thuận với nhau nội dung bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả cho những người đại diện hợp pháp của người bị hại toàn bộ các khoản một lần với số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng). Những người đại diện hợp pháp cho người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngày 12/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã giao trả chiếc xe đạp của ông V cho bà Nguyễn Thị P; giao trả chiếc xe mô tô biển số 34F1-327.50 cho vợ bị cáo là bà Lưu Thị O.
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS-TM ngày 22/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương truy tố Phạm Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T thành khẩn khai báo, bị cáo thừa nhận vào khoảng thời gian 15 giờ 15 phút ngày 25/6/2024, tại khu vực giao nhau giữa đường xóm Đ thuộc Đ, thôn G, xã T, huyện T với quốc lộ C - Phạm Văn T là người điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave an pha, màu sơn đỏ-đen-bạc, biển số 34F1-327.50 khi đến khu vực đông dân cư đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có chướng ngại vật phía trước, đã để mặt ngoài đầu chắn bùn phía trước xe mô tô va chạm với mép dưới giỏ xe bên trái xe đạp do ông Vũ Văn V điều khiển. Hậu quả làm ông V bị chết. Bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện là đúng.
Người đại diện theo ủy quyền cho những người đại diện hợp pháp cho người bị hại đồng thời cũng là người đại diện hợp pháp cho người bị hại là bà Nguyễn Thị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bà Phước xác định cho đến nay trách nhiệm dân sự giữa hai bên đã tự thỏa thuận với nhau đã xong, chiếc xe đạp gia đình đã nhận lại đầy đủ. Những người đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường bất cứ một khoản nào khác. Bà Phước đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260; các điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã C trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Phạm Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Phạm Văn T phải thực hiện các nghĩa vụ của người được hưởng án treo theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự. Nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mô tô để sử dụng.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tham gia tranh luận, thể hiện lời nói sau cùng bị cáo xác định việc bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương với mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên toà như: Hình ảnh camera an ninh thu giữ tại gia đình ông An Văn B; biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường; bản ảnh hiện trường; biên bản và bản ảnh dựng lại hiện trường; biên bản và bản ảnh khám các phương tiện liên quan đến tai nạn; hồ sơ bệnh án; biên bản khám nghiệm tử thi; kết luận giám định tử thi; kết luận giám định về dấu vết trên phương tiện liên quan đến tai nạn; kết luận giám định liên quan đến hình ảnh camera đã thu giữ cùng lời khai của những người làm chứng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng thời gian 15 giờ 15 phút ngày 25/6/2024, tại khu vực giao nhau giữa đường xóm Đ thuộc Đ, thôn G, xã T, huyện T với quốc lộ C - Phạm Văn T khi tham gia giao thông đường bộ tại khu vực đông dân cư đã có hành vi không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có chướng ngại vật phía trước, đã để mặt ngoài đầu chắn bùn phía trước xe mô tô do T điều khiển va chạm với mép dưới giỏ xe bên trái xe đạp do ông Vũ Văn V điều khiển, hậu quả làm ông V bị chết.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tính mạng của ông V. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân thủ các quy tắc giao thông đường bộ, không được thực hiện hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông và đặc biệt tại khu đông dân cư phải giảm tốc độ tới mức dừng lại an toàn để không gây nguy hiểm cho người và phương tiện khác. Vì không tuân thủ các quy định trên, bị cáo đã vi phạm vào Khoản 5 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G và Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Với hậu quả ông V chết là hậu quả nghiêm trọng, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả về vật chất cho gia đình người bị hại. Mặt khác, những người đại diện hợp pháp cho người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong vụ án này, người bị hại ông V đi từ đường xóm là đường không ưu tiên ra quốc lộ là đường ưu tiên có cắm biển báo nguy hiểm “Dừng lại chú ý quan sát”. Mặc dù hình ảnh camera ghi lại ông V có quan sát hai chiều đường, nhưng đã phán đoán khoảng cách, thời gian giữa phương tiện của bị cáo di chuyển đến vị trí mình đứng không chính xác nên đã dong xe đạp chạy qua đường. Như vậy, trong vụ án này ông V là người cũng có một phần lỗi. Do đó, cần áp dụng các điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[6] Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, bản thân không có tiền án, tiền sự; phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng; có nơi cư trú rõ ràng và đặc biệt có khả năng tự cải tạo. Do vậy, không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương cũng đảm bảo bị cáo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phù hợp với quy định tại Khoản 1, 2 và 5 Điều 60 Bộ luật hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo cũng phù hợp với khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và những người đại diện hợp pháp cho người bị hại đã thống nhất thoả thuận bồi thường một lần toàn bộ thiệt hại nhằm khắc phục hậu quả với số tiền 160.000.000 đồng. Những người đại diện hợp pháp cho người bị hại tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác. Đối với chiếc xe đạp của ông V bị hư hỏng nhẹ người đại diện hợp pháp cho người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do vậy không đặt ra xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự.
[9] Về biện pháp tư pháp: Đối với chiếc xe mô tô biển số 34F1-327.50 đã được cơ quan điều tra trả lại cho vợ bị cáo là bà Lưu Thị O; chiếc xe đạp của ông V đã được trả lại cho người đại diện hợp pháp của ông V là phù hợp nên không đặt ra giải quyết.
Trong vụ án này, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T đã thu giữ của bị cáo một giấy phép lái xe hạng A1 số/No 300049306454 mang tên Phạm Văn T do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 18/10/2016. Xét thấy, giấy phép lái xe không phải là vật chứng của vụ án và bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung nên cần trả lại cho bị cáo để sử dụng là phù hợp với quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo được quyền liên hệ với Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện để làm thủ tục nhận lại giấy phép lái xe này.
[10] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[11] Về các vấn đề khác:
Đối với các đĩa ghi âm buổi hỏi cung, đĩa ghi hình ảnh trích xuất camera phục vụ giám định được xác định là tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên tiếp tục cho quản lý tại hồ sơ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a Khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/11/2024).
Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã C trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Phạm Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Phạm Văn T phải thực hiện các nghĩa vụ của người được hưởng án treo theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự. Nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về biện pháp tư pháp: Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T 01 giấp phép lái xe hạng A1 số/No 300049306454 mang tên Phạm Văn T do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 18/10/2016.
- Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người đại diện hợp pháp cho người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Xuân Hiền |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIÊN, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIÊN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
