Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS - PT.

Ngày 06 - 11 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thuỷ.
  • Các Thẩm phán: Ông Ma Ngọc Trung và ông Triệu Ngọc Thức.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 52/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Thị L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 93/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Bị cáo có kháng cáo: Hoàng Thị L, sinh ngày 26/4/1967 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Q và bà Nguyễn Thị V (đều đã chết); chồng: Nguyễn Văn M, sinh năm 1966; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1996; anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ 04; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024 đến ngày 06/6/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có 04 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào thời gian tháng 6/2023, Hoàng Thị L đăng ký kinh doanh dịch vụ lưu trú ngắn ngày (nhà nghỉ P) tại thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình kinh doanh dịch vụ lưu trú, L quen biết với Hà Thị H và Phùng Thị C. Biết H và C đã ly hôn, sống một mình và do ham lợi nhuận từ việc tính giá phòng cho khách nghỉ lưu trú nên L thỏa thuận với C và H về việc bán dâm (quan hệ tình dục) cho khách nam giới tại nhà nghỉ P do L quản lý. Nếu có khách nam giới đến nhà nghỉ có nhu cầu mua dâm thì L sẽ thu của khách 500.000đ/01 người/01 lần bán dâm và chia cho H, Chấn 400.000đ/1lần bán dâm, còn 100.000đ L giữ lại để tính tiền phòng nghỉ, H và C đồng ý. Khoảng 20 giờ ngày 03/6/2024, Khúc Văn T và Hà Xuân D rủ nhau đi mua dâm tại nhà nghỉ P. T gọi điện cho L để bố trí, sắp xếp cho 02 nhân viên nữ bán dâm. L đồng ý rồi gọi điện cho C và H đến nhà nghỉ P để bán dâm cho T và D. Khi C và H đến nhà nghỉ, L đưa cho C, H mỗi người 01 bao cao su màu xanh, có in chữ nước ngoài, rồi sắp xếp cho C lên phòng nghỉ số 04, H lên phòng nghỉ số 05 tầng 2 của nhà nghỉ. Khoảng 10 phút sau thì T và D đến hỏi giá mua bán dâm, L nói 500.000đ/01 người/01 lần mua dâm bao gồm cả tiền phòng. T và D đồng ý, mỗi người đưa cho L 500.000đ. L sắp xếp T vào phòng số 4 để mua bán dâm với C; D vào phòng số 5 để mua bán dâm với H. Hồi 21 giờ 20 phút ngày 03/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành kiểm tra tại phòng 4, phòng 5 nhà nghỉ P, phát hiện T và C, D và H đang có hành vi mua bán, dâm (quan hệ tình dục). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Thị L.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị L, phạm tội “Chứa mại dâm”. Căn cứ: Khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù từ ngày bị cáo đi thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/6/2024 đến ngày 06/6/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, bị cáo Hoàng Thị L có đơn kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm và tranh luận:

  • - Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật, đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ trong hạn luật định, thủ tục giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm đúng trình tự tố tụng.
  • - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, đánh giá mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Hoàng Thị L 01 năm 03 tháng tù về tội Chứa mại dâm là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo tiếp tục thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xuất trình 01 Giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến của bà Nguyễn Thị V là mẹ đẻ của bị cáo; 01 giấy xác nhận quá trình tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc sau ngày 30/4/1975 của chồng bị cáo là ông Nguyễn Văn M; bị cáo cũng xuất trình biên lai thu tiền án phí sơ thẩm, các tờ kết quả xét nghiệm mắc bệnh mãn tính của bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt như sau: Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị L 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, về tội Chứa mại dâm, thử thách 02 năm 06 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và trình bày lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thị L tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ trên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 03/6/2024, tại nhà nghỉ P thuộc thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Hoàng Thị L đã có hành vi cho Khúc Văn T và Phùng Thị C mua bán dâm tại phòng số 04; Hà Xuân D và Hà Thị H mua, bán dâm tại phòng số 05 nhà nghỉ P thì bị Công an huyện S kiểm tra phát hiện và lập biên bản. Hành vi của bị cáo Hoàng Thị L đã phạm vào tội “Chứa mại dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự.

[2] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo xuất trình 01 Giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến của mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị V; 01 giấy xác nhận quá trình tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc sau ngày 30/4/1975 của chồng bị cáo là ông Nguyễn Văn M. Ngoài ra, bị cáo cũng xuất trình biên lai thu tiền án phí sơ thẩm, các tờ kết quả xét nghiệm hiện nay bị cáo đang mắc nhiều loại bệnh như tim, phổi... Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt như sau: Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và có ích cho xã hội.

[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị L, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt như sau:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chứa mại dâm”, thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (06/11/2024).

Giao bị cáo Hoàng Thị L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo Hoàng Thị L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đôi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai số 0001047 ngày 23/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (06/11/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh T.Quang;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh TQuang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - TAND huyện Sơn Dương;
  • - VKSND huyện S.Dương;
  • - Chi cục THADS huyện S.Dương;
  • - CQCSĐT Công an huyện S.D;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nguyễn Xuân Thuỷ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Ma Ngọc Trung - Triệu Ngọc Thức

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS - PT. ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về chứa mại dâm

  • Số bản án: 38/2024/HS - PT.
  • Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger