Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HSST
Ngày 27-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Anh Quang
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Chí Hùng
Bà Nguyễn Thị Hoa

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đỗ Đức Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với:

1. Bị cáo Trần Xuân D, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hồng T và con bà Trần Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

  • Ngày 16/4/2018, bị công an thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vì “Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác”. D đã chấp hành xong ngày 26/4/2018.
  • Bản án số 14/2021/HSST ngày 06/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt D 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. D đã chấp hành xong hình phạt, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/3/2022, chấp hành xong toàn bộ các nghĩa vụ khác của bản án vào ngày 21/5/2021. Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam.

2. Bị hại:

2.1. Anh Vũ Hồng Đ, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Đại diện theo ủy quyền: Anh Vũ Quang Đ1, sinh năm 1975. Địa chỉ: khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (theo giấy ủy quyền ngày 19/9/2024). Vắng mặt.

2.2. Anh Vũ Tuấn H, sinh năm 1982 (đã chết)

Người đại diện cho bị hại:

  • Ông Vũ Tiến D1, sinh năm 1960 (bố đẻ anh H)
  • Bà Phạm Thị C, sinh năm 1960 (mẹ đẻ anh H)
  • Chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1986 (vợ anh H).

Chị Đỗ Thị H1 là người đại diện theo pháp luật của cháu Vũ Hà L, sinh năm 2009, cháu Vũ Quỳnh N, sinh năm 2014, cháu Vũ Anh T2, sinh năm 2020.

Đều trú tại: Khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Người được người đại diện bị hại ủy quyền: Ông Vũ Văn H2, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (theo giấy ủy quyền ngày 19/9/2024). Có đề nghị xét xử vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH L2, địa chỉ trụ sở: Ngõ A, tổ A, đường H, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Đại diện theo pháp luật: Ông Lại Tôn T3, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ C, Lê Hồng P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Xuân D có giấy phép lái xe số: [...], hạng E do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp, có giá trị đến ngày 19/05/2026 là lái xe chuyên chở khách của Công ty TNHH L2 có địa chỉ tại tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 11/4/2024, D điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 17B-011.68 rời Trạm dừng nghỉ Quang L1 thuộc xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ để đi về thành phố T. Trên xe ô tô lúc này còn có anh Phạm Hoài N1, sinh năm 2002, nơi thường trú: Tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình là phụ xe, anh Đặng Văn Đ2, sinh năm 1981, nơi thường trú: Thôn T, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình và khoảng hơn 10 người khách ngồi trên xe. Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, D điều khiển xe ô tô đi đến đoạn Km 70+850 đường Q thuộc khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ cách lối rẽ đi vào nút giao IC8 cao tốc N - Lào Cai khoảng 100m về phía bên trái, do trời tối nên D có bật đèn chiếu sáng phía trước, đèn sườn, đèn hành trình của xe. D điều khiển xe giảm tốc độ còn khoảng 20km/h, cài số 3, đi ở phần đường bên phải theo chiều đi, bật đèn tín hiệu xi nhan bên trái để xin đường chuyển hướng. Khi xe ô tô đi đến gần lối vào nút giao IC8, D cài số 2 rồi mở cua, đánh lái điều khiển xe chuyển hướng chếch chéo để sang đường với tốc độ 10-15 km/h.

Lúc này, D chỉ chú ý quan sát theo hướng rẽ vào nút giao IC8 và quan sát qua gương chiếu hậu bên trái để quan sát có phương tiện ở phía sau xe, D không chú ý quan sát các phương tiện đi từ hướng thành phố V đi đến. Khi phần đầu xe ô tô D điều khiển đi qua vạch sơn đứt quãng màu vàng ở giữa đường để rẽ vào nút giao IC8 khoảng 2-3m thì D quan sát thấy phía trước theo hướng thành phố V đi huyện Đ cách khoảng 5m - 10m có xe mô tô biển kiểm soát 19L7-3108, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Đỏ - đen do anh Vũ Tuấn H, sinh năm 1982, nơi thường trú: Khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (giấy phép lái xe số: [...], hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh P cấp) điều khiển chở người ngồi sau là anh Vũ Hồng Đ, sinh năm 1982, nơi thường trú: Khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ đang đi ở phần đường bên phải theo chiều ngược lại. D nhấn chân phanh và đánh lái sang bên trái để tránh nhưng do khoảng cách gần nên phần đầu xe mô tô do anh H điều khiển va chạm vào phần đầu xe ô tô do D điều khiển. Sau khi xảy ra va chạm, D điều khiển xe ô tô di chuyển về phía trước khoảng 01m thì dừng hẳn lại. Hậu quả: Anh H tử vong tại hiện trường, anh Đ bị thương được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh P cấp cứu điều trị, xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng.

Sau khi tiếp nhận tin báo về vụ tai nạn giao thông trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã phối hợp với các thành phần chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi anh Vũ Tuấn H, khám nghiệm phương tiện, thu mẫu máu của anh Vũ Tuấn H, Vũ Hồng Đ, Trần Xuân D để phục vụ công tác giám định, lấy lời khai những người liên quan; đồng thời tổ chức kiểm tra, xác minh. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Trần Xuân D là 0,000mg/lít khí thở; kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của anh Vũ Hồng Đ là 0,066mg/lít khí thở. Kết quả khám nghiệm hiện trường tại Km70+850 đường Q thuộc khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, mặt đường rộng 15,4m; ở giữa có vạch kẻ sơn đứt quãng, tâm vạch sơn cách mép đường chuẩn 9,8m. Tại hiện trường có vết mài trượt bám dính chất màu đen tại vị trí số 1 dài 3,6m; rộng 0,47m, chiều hướng chếch mép đường chuẩn từ Quốc lộ B đi vào nút giao IC8; đầu vết cách mép đường chuẩn hướng đi Việt Trì 26,05m; cách mép đường 9,6m; cuối vết trùng với mặt lăn bánh phía sau bên trái xe ô tô 17B-011.68, nhiều vết cày liên tục và không liên tục trên mặt đường tại vị trí số 4, 5, 6, 7. Xe mô tô đổ nghiêng tại mặt đường, xung quanh có nhiều vùng thiết bị bị vỡ, đầu xe ô tô đỗ chéo so với đường Q, hướng vào lối rẽ IC8, đuôi xe hướng ra đường Quốc lộ. Mở rộng hiện trường theo đường Quốc lộ 2 về hướng đi huyện Đ 150m, tại lề đường bên trái có biển báo giới hạn tốc độ 50km/h. Mở rộng hiện trường theo đường Quốc lộ 2 về hướng đi TP . 150m, tại lề đường bên phải có biển báo giới hạn tốc độ 50km/h.

Kết quả khám nghiệm các phương tiện: xe ô tô biển số 17B-011.68 bị nứt vỡ kính chắn gió phía trước, chân kính có vết trượt bề mặt. Tại ốp mặt nạ phía trước tiếp giáp chân kính có vết lõm biến dạng, mặt nạ phía dưới có các vết trượt bề mặt bám dính chất màu trắng. Tại vị trí nửa bên trái ba đờ sốc phía trước có nhiều vết mài trượt, cong vênh. Xe mô tô biển số 19L7-3108 có vết mài trượt bám dính chất màu đỏ, trắng in trên má lốp phía trước. Đồng hồ công tơ mét vỡ bung, treo móc trên xe. Toàn bộ hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước bị khuyết thiếu. Toàn bộ ốp nhựa xung quanh đèn chiếu sáng phía trước bị vỡ. Tay nắm cao su của tay nắm điều khiển bên phải bị khuyết thiếu. Ngoài ra còn nhiều vết mài trượt và nứt gãy ở phần đầu và xung quanh xe mô tô.

Kết quả khám nghiệm tử thi anh Vũ Tuấn H: Hai mắt nhắm, nhãn cầu hai bên không tổn thương. Hai lỗ tai, hai lỗ mũi có máu chảy ra khi thay đổi tư thế. Nhiều vị trí trên người có vết rách da, tụ máu. Rạch mở da đầu vùng trán bên trái tương ứng với vết xây sát da bên ngoài: Tụ máu tổ chức dưới da đầu, vùng trán bên trái, vỡ sập xương trán bên trái trên diện đo được 7cm x 3cm, rách màng cứng, lộ tổ chức não dập nát. Gia đình kiên quyết từ chối giải phẫu các bộ phận khác của tử thi.

Ngày 12/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 306 yêu cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định nguyên nhân chết của anh Vũ Tuấn H. Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 529/KLGĐTT-PC09 ngày 06/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: “Trên cơ thể anh Vũ Tuấn H có các vết xây sát, rách da, tụ máu. Chấn thương sọ não: Tụ máu tổ chức dưới da đầu vùng trán bên trái, vỡ sập xương trán bên trái, rách màng cứng, tổ chức não dập nát. Chấn thương ngực kín: T4 ngực bên phải mất vững, chọc dò khoang ngực bên phải có nhiều máu không đông. Gãy phức tạp xương gò má bên trái. Gãy phức tạp xương đùi bên phải. Nguyên nhân chết của anh Vũ Tuấn H là do đa chấn thương (chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín, gãy xương đùi).”

Ngày 02/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra các Quyết định trưng cầu giám định số 369, 370, 371, 372, 373, 374 trưng cầu xác định chất ma tuý, cồn (ethanol) trong các mẫu máu của Trần Xuân D, Vũ Tuấn H và Vũ Hồng Đ.

Tại Bản kết luận giám định hóa pháp số 922/PY-XNĐH; số 924/PY-XNĐH; số 925/PY-XNĐH cùng ngày 10/05/2024 của V kết luận: “Không tìm thấy các chất ma túy Morphin, 6MAM, H3, C1, C2, A, M, MDA, MDMA, MDEA, Ketamin, LSD, THC (cần sa) trong mẫu máu của Vũ Tuấn H, Vũ Hải Đ3 và Trần Xuân D.”

Tại Kết luận giám định số 678/KL-KTHS ngày 16/5/2024; Kết luận giám định số 697/KL-KTHS; số 698/KL-KTHS cùng ngày 20/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: “Trong mẫu máu của Trần Xuân D gửi đến giám định không có cồn (ethanol); trong mẫu máu của Vũ Hồng Đ, sinh năm: 1982, HKTT: Khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ gửi đến giám định có cồn (ethanol), Nồng độ cồn (ethanol) trong máu là: 84,563 miligam/100 mililít máu; Trong mẫu máu của Vũ Tuấn H, sinh năm: 1982, HKTT: Khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ gửi đến giám định có cồn (ethanol), Nồng độ cồn (ethanol) trong máu là: 203,017 miligam/100 mililít máu.”

Ngày 10/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện P ra Yêu cầu định giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 19L7-3108 và xe ô tô biển số 17B-011.68.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20 ngày 10/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P kết luận: “Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số: 19L7-3108; nhãn hiệu: YAMAHA, loại: SIRIUS, màu sơn: Đỏ – Đen, số máy: 5C64354798, số khung: RLCS5C640AY354797; xe đã cũ, đã qua sử dụng là phương tiện bị hư hỏng trong vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 11/4/2024, tại Km 70+850 đường Q thuộc khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ tại thời điểm tháng 04/2024 là 6.090.000đ (Sáu triệu không trăm chín mươi nghìn đồng).”

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 21 ngày 10/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P kết luận: “Giá trị thiệt hại của xe ô tô biển số: 17B-011.68, nhãn hiệu: THACO, loại xe: ô tô khách, màu sơn: Đỏ – trắng, số máy: N1415F023246, số khung: 6SBCFC004074; xe đã cũ, đã qua sử dụng là phương tiện bị hư hỏng trong vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 11/4/2024, tại Km 70+850 đường Q thuộc khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ tại thời điểm tháng 04/2024 là 15.500.000đ (Mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng). Giá trị còn lại của xe ô tô là 56.800.000 đồng/người/năm.

Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và Quyết định dẫn giải để tiến hành giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với anh Vũ Hồng Đ do vụ tai nạn giao thông trên gây ra nhưng anh Đ và đại diện gia đình anh Đ kiên quyết từ chối giám định nên không giám định được.

Xác minh về tài sản, thu nhập của bị cáo: Bị cáo hiện đang sinh sống cùng gia đình tại thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10 thuộc thôn C, xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình. Bản thân bị cáo không có nhà, không đứng tên quyền sử dụng thửa đất nào tại địa phương; không có tài sản riêng gì có giá trị.

Thu nhập bình quân của người lao động tại xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình là 56.800.000 đồng/người/năm.

Về dân sự: Trần Xuân D đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Vũ Tuấn H số tiền 150.000.000 đồng, bồi thường cho gia đình anh Vũ Hồng Đ số tiền 70.000.000 đồng. Gia đình anh H, anh Đ đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu đề nghị gì khác. Đại diện Công ty TNHH L2 không có yêu cầu, đề nghị gì về thiệt hại của xe ô tô đối với Trần Xuân D; gia đình anh H không có đề nghị gì về thiệt hại của xe mô tô.

Cáo trạng số: 39/CT-VKSPT ngày 13/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Trần Xuân D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo D và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D2 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Đề nghị xử phạt: bị cáo Trần Văn D2 từ 08 tháng tù đến 11 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  • Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo D2.

2. Về trách nhiệm dân sự:

  • Xác nhận bị cáo Trần Văn D2 đã bồi thường xong cho người đại diện hợp pháp bị hại Vũ Tuấn H (do ông Vũ Văn H2 đại diện theo ủy quyền nhận thay) với tổng số tiền là 150.000.000₫ (Bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu đồng). Bị cáo D2 không phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp gia đình bị hại Vũ Tuấn H bất kỳ khoản tiền nào khác.
  • Xác nhận bị cáo Trần Văn D2 đã bồi thường xong cho anh Vũ Hồng Đ (do ông Vũ Quang Đ1 đại diện theo ủy quyền nhận thay) với tổng số tiền là 70.000.000đ (bằng chữ: Bảy mươi triệu đồng). Bị cáo D2 không phải bồi thường cho anh Vũ Hồng Đ bất kỳ khoản tiền nào khác.
  • Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty TNHH L2 do ông Lại Tôn T3 - đại diện theo pháp luật về việc chiếc xe ô tô biển số 17B -011.68 do bị cáo Trần Xuân D điều khiển gây tai nạn bị hỏng, công ty T5 sửa chữa, không yêu cầu bị cáo D hay bất kỳ ai phải bồi thường gì, không đề nghị gì khác.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sư.

  • Trả lại cho bị cáo Trần Xuân D 01 giấy phép lái xe hạng E số: [...] mang tên Trần Xuân D do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 28/4/2022 có giá trị đến ngày 19/5/2026 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2024).
  • Xác nhận ngày 31/5/2024, Cơ quan cơ quan Công an huyện P đã trả lại toàn bộ số tài sản, đồ vật trên cho Công ty TNHH L2 do anh Lại Tôn T3, sinh năm 1981, HKTT: Tổ C, Lê Hồng P, thành phố T, tỉnh Thái Bình đại diện theo pháp luật gồm: 01 xe ô tô biển số 17B-011.68, nhãn hiệu THACO, Loại xe: Ô tô khách, màu sơn: Đỏ - trắng, xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004728, của xe ô tô biển số: 17B-011.68 tên chủ xe là Công ty TNHH L2; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: 0802914 do Công ty Cổ phần Đ4 cấp ngày 24/01/2024 cho xe ô tô biển số: 17B-011.68 có giá trị đến ngày 23/7/2024.
  • Xác nhận ngày 02/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại số tài sản trên cho anh Vũ Văn H2 là đại diện gia đình anh Vũ Tuấn H gồm: 01 xe mô tô biển số 19L7-3180, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Đỏ-đen, số máy: 5C64354798, số khung: RLCS5C640AY354797 (đăng ký xe mang tên anh Hạ Đình H4, sinh năm 1982, nơi thường trú: Khu D, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ); 01 giấy đăng ký, mô tô xe máy số: 007942 của xe mô tô biển số: 19L7-3180.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1, 2 điều 135, khoản 2 điều 136, Điều 331, 336 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Xuân D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng và đều xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, kiểm sát viên huyện P trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt theo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại (anh Vũ Tuấn H) là anh Vũ Văn H2 có đơn xin giải quyết vắng mặt; đại diện theo ủy quyền của bị hại anh Vũ Hồng Đ là anh Vũ Quang Đ1 vắng mặt, đại diện Công ty TNHH L2 là ông Lại Tôn T3 - người đại diện theo pháp luật vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra đã có lời khai nên sự vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử là phù hợp.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo D thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, đại diện bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 11/4/2024, Trần Xuân D, sinh năm 1971, nơi thường trú: Thôn C, xã M, huyện K, tỉnh Thái điều khiển xe ô tô biển số 17B-011.68 đi đến đoạn đường K+850 Quốc lộ B thuộc khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ thì chuyển hướng rẽ trái để vào Trạm thu phí IC8 Cao tốc N - Lào Cai đã không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi ngược chiều dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 19L7-3108 do anh Vũ Tuấn H điều khiển chở theo người ngồi sau là anh Vũ Hồng Đ đang đi bên phải đường theo chiều ngược lại. Hậu quả: Anh H tử vong tại hiện trường, anh Đ bị thương, xe mô tô bị hư hỏng, thiệt hại 6.090.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 luật giao thông đường bộ.

“Điều 15. Chuyển hướng.

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

Hành vi của Trần Xuân D đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

[3]. Xét tính chất của vụ án, nguyên nhân phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Nguyên nhân dẫn đến bị cáo phạm tội do bị cáo không tuân thủ an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, phạm tội với lỗi vô ý vì quá tự tin, hành vi chuyển hướng không đảm bảo an toàn của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến cái chết của bị hại là anh H. Hành vi của bị cáo cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4]. Xét các yếu tố nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo D. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về nhân thân: Bị cáo được gia đình nuôi ăn học đến lớp 7/12, sau đó sinh sống lao động tự do tại địa phương và làm nghề lái xe, bị cáo chưa có vợ con, có bố mẹ già cần chăm sóc. Bị cáo không có tiền án tiền sự nhưng đã có nhân thân, lần phạm tội này thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường cho gia đình anh Vũ Tuấn H số tiền 150.000.000đ và anh Vũ Hồng Đ 70.000.000đ; bố đẻ và ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, gia đình bị hại có đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, mặt khác bị hại cũng có lỗi khi tham gia giao thông vi phạm nồng độ cồn do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5]. Khi lượng hình hội đồng xét xử xét thấy: Đánh giá các yếu tố nhân thân, tình tiết tăng tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của của bị cáo thấy: Hậu quả bị cáo gây cho gia đình bị hại, xã hội là nghiêm trọng không gì bù đắp được. Qua nghiên cứu các tài liệu, lời khai có trong hồ sơ thấy rằng trong vụ án này cần xem xét, đánh giá của hậu quả của vụ tai nạn có một phần lỗi của bị hại khi tham gia giao thông điều khiển xe có sử dụng nồng độ cồn cũng là một phần dẫn đến hậu quả vụ tai nạn trên đây và cũng là tình tiết để hội đồng xét xử đánh giá khách quan, toàn diện khi lượng hình đối với bị cáo.

Khi quyết định hình phạt thấy rằng bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện nay khó khăn, nguyên nhân dẫn đến phạm tội của bị cáo cũng có lỗi một phần của bị hại, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân nhưng lần phạm tội này lại phạm tội nghiêm trọng nên không đủ điều kiện được hưởng án treo nên cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù ở mức phù hợp để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Bị cáo có đủ điều kiện để áp dụng dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, mức đề nghị mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa cũng phù hợp, có căn cứ nên được xem xét khi quyết định hình phạt.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có bố mẹ già cần chăm sóc, nghề nghiệp lái xe chủ yếu để nuôi sống bị cáo và cũng là nguồn thu nhập để bị cáo có thể hỗ trợ, chăm sóc bố mẹ bị cáo lúc tuổi già nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự:

  • Đối với Công ty L2 là chủ sở hữu chiếc xe ô tô tô biển số 17B -011.68 do bị cáo Trần Xuân D điều khiển gây tai nạn, giữa công ty TNHH L2 và bị cáo Trần Xuân D có hợp đồng lao động thể hiện nghĩa vụ của người lao động “Toàn bộ chi phí khắc phục hậu quả tai nạn lái xe chịu 100%” nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại hoàn toàn thuộc về bị cáo. Quá trình điều tra bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại đã thống nhất bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Vũ Tuấn H (do ông Vũ Văn H2 đại diện nhận) với số tiền 150.000.000đ, gia đình anh Vũ Hồng Đ (do anh Vũ Quang Đ1 đại diện nhận) với số tiền 70.000.000đ. Đại diện cho các bị hại không yêu cầu, đề nghị bị cáo D phải bồi thường bất cứ khoản tiền nào khác đồng thời xác định vấn đề bồi thường dân sự giữa bị cáo với gia đình các bị hại đã thỏa thuận giải quyết xong. Xét thấy, việc tự nguyện thỏa thuận giải quyết trách nhiệm dân sự giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần xác nhận bồi thường giữa các bên là phù hợp.
  • Đại diện Công ty TNHH L2 có quan điểm việc bị cáo D điều khiển xe ô tô biển số 17B -011.68 xảy ra tai nạn giao thông ngày 11/4/2024 dẫn đến xe ô tô bị hư hỏng, công ty T5 sửa chữa, không yêu cầu bị cáo D hay bất kỳ ai phải bồi thường gì, không đề nghị gì khác. Xét thấy, ý kiến của đại diện Công ty TNHH L2 là tự nguyện, phù hợp pháp luật nên cần ghi nhận sự tự nguyện này là phù hợp.

[8]. Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 giấy phép lái xe hạng E số: [...] mang tên Trần Xuân D do Sở giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp ngày 28/4/2022 có giá trị đến ngày 19/5/2026 xét thấy không cần tạm giữ nên trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng là phù hợp.
  • Đối với 01 xe ô tô biển số 17B-011.68, nhãn hiệu THACO, Loại xe: Ô tô khách, màu sơn: Đỏ - trắng, xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004728, của xe ô tô biển số: 17B-011.68 tên chủ xe là Công ty TNHH L2; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: 0802914 do Công ty Cổ phần Đ4 cấp ngày 24/01/2024 cho xe ô tô biển số: 17B-011.68 có giá trị đến ngày 23/7/2024. Xét thấy, không cần thiết tạm giữa nên ngày 31/5/2024, Cơ quan cơ quan Công an huyện P đã trả lại toàn bộ số tài sản, đồ vật trên cho anh Lại Tôn T3, sinh năm 1981, HKTT: Tổ C, Lê Hồng P, thành phố T, tỉnh Thái Bình là phù hợp.
  • Đối với 01 xe mô tô biển số 19L7-3180, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Đỏ-đen, số máy: 5C64354798, số khung: RLCS5C640AY354797 (đăng ký xe mang tên anh Hạ Đình H4, sinh năm 1982, nơi thường trú: Khu D, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; anh H4 đã bán xe mô tô này cho Vũ Tuấn H vào khoảng tháng 12/2023), xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 giấy đăng ký, mô tô xe máy số: 007942 của xe mô tô biển số: 19L7-3180. Ngày 02/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại số tài sản trên cho anh Vũ Văn H2 là đại diện gia đình anh Vũ Tuấn H là phù hợp.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên có căn cứ để xem xét, chấp nhận.

[10]. Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D2 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

  • Xử phạt: bị cáo Trần Văn D2 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  • Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo D2.

2. Về trách nhiệm dân sự:

  • Xác nhận bị cáo Trần Văn D2 đã bồi thường xong cho người đại diện hợp pháp bị hại Vũ Tuấn H (do ông Vũ Văn H2 đại diện theo ủy quyền nhận thay) với tổng số tiền là 150.000.000₫ (Bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu đồng). Bị cáo D2 không phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp gia đình bị hại Vũ Tuấn H bất kỳ khoản tiền nào khác.
  • Xác nhận bị cáo Trần Văn D2 đã bồi thường xong cho anh Vũ Hồng Đ (do ông Vũ Quang Đ1 đại diện theo ủy quyền nhận thay) với tổng số tiền là 70.000.000đ (bằng chữ: Bảy mươi triệu đồng). Bị cáo D2 không phải bồi thường cho anh Vũ Hồng Đ bất kỳ khoản tiền nào khác.
  • Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty TNHH L2 do ông Lại Tôn T3 - đại diện theo pháp luật về việc chiếc xe ô tô biển số 17B -011.68 do bị cáo Trần Xuân D điều khiển gây tai nạn bị hỏng, công ty T5 sửa chữa, không yêu cầu bị cáo D hay bất kỳ ai phải bồi thường gì, không đề nghị gì khác.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sư.

  • Trả lại cho bị cáo Trần Xuân D 01 giấy phép lái xe hạng E số: [...] mang tên Trần Xuân D do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 28/4/2022 có giá trị đến ngày 19/5/2026 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2024).
  • Xác nhận ngày 31/5/2024, Cơ quan cơ quan Công an huyện P đã trả lại toàn bộ số tài sản, đồ vật trên cho Công ty TNHH L2 do anh Lại Tôn T3, sinh năm 1981, HKTT: Tổ C, Lê Hồng P, thành phố T, tỉnh Thái Bình đại diện theo pháp luật gồm: 01 xe ô tô biển số 17B-011.68, nhãn hiệu THACO, Loại xe: Ô tô khách, màu sơn: Đỏ - trắng, xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004728, của xe ô tô biển số: 17B-011.68 tên chủ xe là Công ty TNHH L2; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: 0802914 do Công ty Cổ phần Đ4 cấp ngày 24/01/2024 cho xe ô tô biển số: 17B-011.68 có giá trị đến ngày 23/7/2024.
  • Xác nhận ngày 02/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại số tài sản trên cho anh Vũ Văn H2 là đại diện gia đình anh Vũ Tuấn H gồm: 01 xe mô tô biển số 19L7-3180, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Đỏ-đen, số máy: 5C64354798, số khung: RLCS5C640AY354797 (đăng ký xe mang tên anh Hạ Đình H4, sinh năm 1982, nơi thường trú: Khu D, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ); 01 giấy đăng ký, mô tô xe máy số: 007942 của xe mô tô biển số: 19L7-3180.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1, 2 điều 135, khoản 2 điều 136, Điều 331, 336 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Xuân D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo D có quyền kháng cáo; bị hại Vũ Hồng Đ, đại diện hợp pháp cho bị hại Vũ Tuấn H, đại diện theo ủy quyền của bị hại Vũ Hồng Đ, đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại Vũ Tuấn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH L2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • Công an huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • THA HS, DS huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • Bị cáo; bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại,
  • Đại diện theo ủy quyền bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • UBND xã Minh Quang, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;
  • Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Anh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 38/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger