Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM TÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/9/2024

V/v: "Tranh chấp ly hôn

và nuôi con".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và bà Trà Thị Thanh Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 168/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXX- HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/QÐST- HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)

Bị đơn: Ông Lương Văn C, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày: Giữa bà Nguyễn Thị L và ông Lương Văn C tự nguyện tìm hiểu, sống chung và đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 06/11/2001. Trong quá trình sống chung vợ chồng có hạnh phúc được một thời gian. Sau đó, ông C kiếm cớ ghen tuông và thường xuyên đánh đập bà L. Vì thương con và muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình nên bà L nhẫn nhịn để tiếp tục chung sống. Nhưng từ tháng 02/2023, ông C bỏ nhà lên Đắk Lắk làm ăn cho đến nay, lâu lâu mới về thăm nhà. Mỗi lần về nhà thì ông C kiếm cớ gây gỗ, đánh đập bà L. Nay bà L nhận thấy tình cảm giữa bà L và ông C không còn, không thể hàn gắn được nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông Lương Văn C.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng có 03 con chung là cháu Lương Thị T, sinh năm 2002; cháu Lương Thị Thanh T1, sinh năm 2004 và cháu Lương Văn B, sinh ngày 18/11/2006. Khi ly hôn, bà L có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Lương Văn B, sinh ngày 18/11/2006 và không yêu cầu cấp dưỡng. Còn 02 cháu T và T1 đã thành niên và có công việc làm ổn định nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị L tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

* Bị đơn là ông Lương Văn C đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến và cũng không tham gia phiên tòa.

Đại diện VKSND huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Đối với đương sự thì nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn là ông Lương Văn C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, thấy rằng giữa bà Nguyễn Thị L và ông Lương Văn C tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 06/11/1991. Trong thời gian chung sống thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau mà nguyên nhân là do ông C ghen tuông và thường xuyên đánh đập bà L. Hơn nữa, ông C bỏ nhà lên Đắk Lắk để làm ăn từ tháng 02/2023 cho đến nay, lâu lâu mới về thăm nhà và mỗi lần về nhà thì ông C kiếm cớ gây gỗ, đánh đập bà L. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử cần được chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình

Về con chung: Đề nghị giao cháu Lương Văn B, sinh ngày 18/11/2006 cho bà Nguyễn Thị L tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy;

[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của tòa án: Hội đồng xét xử thấy rằng đây là tranh chấp ly hôn và nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do; Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, xác định giữa bà Nguyễn Thị L và ông Lương Văn C tự nguyện tìm hiểu, sống chung và đăng ký kết hôn vào ngày 06/11/1991, tại UBND xã T nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3.2]. Tại đơn xác nhận tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ghi ngày 02/8/2024, có xác nhận của trưởng ban điều hành thôn G, xã T về quan hệ hôn nhân và tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Nguyễn Thị L và ông Lương Văn C là đúng sự thật. Hơn nữa, nội dung đơn xác nhận tình trạng mâu thuẫn này phù hợp với kết quả xác minh tại UBND xã T vào ngày 17/7/2024.

[3.3]. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với lời trình bày của nguyên đơn, đã xác định: Trong thời gian chung sống thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau mà nguyên nhân là do ông C ghen tuông và thường xuyên đánh đập bà L. Do đó, hành vi của ông C đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vợ chồng; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Lương Văn C không trình bày ý kiến và cũng không tham gia tố tụng nên không có cơ sở để xem xét ý kiến, nguyện vọng của bị đơn. Đồng thời, hành vi này cũng thể hiện ý chí của bị đơn về việc không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình, phù hợp với lời khai của nguyên đơn về nguyên nhân làm phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị L và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[3.4]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về nguyện vọng nuôi con chung:

Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/8/2024, cháu Lương Văn B đã trình bày ý kiến, thể hiện nguyện vọng muốn tiếp tục sống chung với mẹ (bà L). Do đó, cần thiết giao cho bà Nguyễn Thị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lương Văn B, sinh ngày 18/11/2006 cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị L không yêu cầu ông Lương Văn C cấp dưỡng nuôi con. Đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

[5]. Về chia tài sản và nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

-Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Lương Văn C.

Về con: Giao cháu Lương Văn B, sinh ngày 18/11/2006 cho bà Nguyễn Thị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Ông Lương Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0010853 ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.

3. Án xử công khai, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Tân;
  • -THA dân sự huyện Hàm Tân;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Đình Khương

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lệ được ly hôn với ông Lương Văn Cường. Về con: Giao cháu Lương Văn Bình, sinh ngày 18/11/2006 cho bà Nguyễn Thị Lệ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Ông Lương Văn Cường không phải cấp dưỡng nuôi con.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger