Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẢO THẮNG

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày 12/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Bích Phượng

2. Ông Phạm Tuấn Thịnh

Thư ký phiên toà: Bà Lê Phương Thảo – Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Mai Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGÔ VĂN PHÚC - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18 tháng 10 năm 2001, tại thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nơi thường trú: Thôn T, xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nơi ở trước khi bị bắt: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Con ông Ngô Văn Đ và bà Ngô Thị H; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo Ngô Văn P bị tạm giữ từ ngày 27/5/2024 đến ngày 02/6/2024, tạm giam từ ngày 02/6/2024 đến ngày 28/8/2024. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 26/5/2024, Ngô Văn P đến nhà Đào Văn B mượn xe máy, Đào Văn B rủ P ở lại ăn cơm, uống rượu cùng B và người đàn ông tên T (không xác định được tuổi, địa chỉ), P đồng ý. Sau khi ăn uống xong, P đi lên gác xép nhà B thì thấy T đang sử dụng ma túy. P hỏi T "cho cháu xin một khói", ý của P là xin sử dụng ma túy cùng T, T không nói gì mà ném 1 gói giấy bạc xuống bàn rồi rời đi. P nhặt lấy gói giấy bạc, mở ra xem bên trong thì thấy có 10 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine. P cầm số ma túy này đi ra vườn nhà B sử dụng hết 04 viên ma túy rồi vào trong nhà B ngủ. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 27/5/2024, P đi bộ từ nhà của B ra đường Q để đón xe khách về nhà. Khi P đi đến địa phận thôn Bản Quẩn, xã B, huyện B thì bị tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy Công an huyện B, Công an xã B phát hiện, yêu cầu kiểm tra. P đã tự giác lấy 06 viên nén màu hồng là ma túy Methamphetamine đang cất giấu trong người giao nộp cho tổ công tác và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Tại kết luận giám định số 222/KL-GĐMT ngày 30/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 0,607 (không phẩy sáu trăm linh bảy) gam các viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau, trên bề mặt của mỗi viên đều có dập chìm ký tự "WY" gửi giám định là loại chất ma túy Methamphetamine. Cơ quan giám định trích mẫu giám định 0,203 gam, hoàn trả cơ quan trưng cầu 0,404 gam

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định.

Cáo trạng số 34/CT-VKSBT ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Ngô Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn P 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng và án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Ngô Văn P nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 26/5/2024 bị cáo Ngô Văn P đã có hành vi tàng trữ 0,607 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi cất giấu 0,607 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  3. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết về pháp luật, biết được việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu rèn luyện bản thân, để có ma tuý sử dụng, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện B, vì vậy cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mình đã gây ra.
  4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, mà bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.

    Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.

  5. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
  6. Về vật chứng vụ án: Đối với 0,404 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng 01 mảnh giấy bạc được niêm phong trong 01 bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L là vật chứng của vụ án. Xét thấy đây là vật thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành và là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  7. Đối với Đào Văn B là người cho bị cáo Ngô Văn P ngủ nhờ vào tối ngày 26/5/2024. Quá trình điều tra, xác định B không biết việc người nam giới tên T và Ngô Văn P sử dụng ma túy tại nhà mình. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Đào Văn B là có căn cứ.
  8. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Ngô Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Ngô Văn P 01(một) năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 27/5/2024.
  2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy 0,404 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng 01 mảnh giấy bạc màu trắng được niêm phong trong một bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Một mặt của bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Ngô Văn P ngày 7/5/2024 tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai”.

    (Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024)

  3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lào Cai (1);
  • - TAND tỉnh Lào Cai (1);
  • - VKSND H. Bảo Thắng(1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - CQCSĐT CA H. Bảo Thắng (1);
  • - Nhà tạm giữ CABT (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - THA DS H. Bảo Thắng (1);
  • - HS THA HS (2);
  • - Lưu văn phòng (1)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Thị Mai Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGÔ VĂN P BỊ XX
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger