Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày 29 - 8 - 2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thiện Bửu;

Ông Lê Thành Trung.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Châu T (Tên gọi khác: Bánh B), sinh ngày 19/4/1998; nơi cư trú: Khóm T, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
  2. Họ và tên: Lê Văn B1 (Tên gọi khác: Tiền E), sinh ngày 15/5/2000; nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1968 và bà Đặng Thị Kim C, sinh năm 1968; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
  3. Họ và tên: Nguyễn Văn P, sinh ngày 01/01/1996; nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Lệ E1, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
  4. Họ và tên: Võ Văn T3, sinh ngày 19/4/2000; nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thanh P1, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
  5. Họ và tên: Huỳnh Văn Chí T5, sinh ngày 01/01/1998; nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Lực N, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1972; có vợ tên Phan Hồng T7, sinh năm 2002, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Các bị cáo có mặt).

- Bị hại: Nguyễn Văn P2, sinh ngày 01/01/1985 (Vắng mặt không lý do);

Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Minh M, sinh ngày 11/10/1996 (Vắng mặt có đơn);
  2. Nơi cư trú: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Nguyễn Út D, sinh ngày 01/01/1992 (Vắng mặt có đơn);
  4. Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Trần Thị Kim Y, sinh ngày 09/10/1998 (Vắng mặt có đơn);
  6. Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  7. Nguyễn Thị K1, sinh ngày 01/01/1995 (Vắng mặt có đơn);
  8. Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  9. Phan Hồng T7, sinh năm 2002 (Có mặt);
  10. Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  11. Lê Văn T1, sinh năm 1968 (Vắng mặt có đơn);
  12. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1973 (Vắng mặt không lý do);
  13. Nguyễn Thị Lệ E1, sinh năm 1973 (Vắng mặt không lý do);
  14. Cùng nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  15. Nguyễn Chí T8, sinh năm 1973 (Vắng mặt có đơn);
  16. Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Huỳnh Thị Thu B2, sinh năm 1968 (Vắng mặt có đơn);
  2. Nơi cư trú: Khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Trần Nhựt N1, sinh ngày 28/02/1999 (Có mặt);
  4. Phan Văn T9, sinh ngày 09/3/2002 (Vắng mặt không lý do);
  5. Cùng nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  6. Vũ Khúc Lê Minh Đ, sinh ngày 05/9/1998 (Vắng mặt không lý do);
  7. Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  8. Nguyễn Thanh N2, sinh ngày 23/02/1984 (Vắng mặt có đơn);
  9. Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

  10. Nguyễn Văn G, sinh năm 1983 (Vắng mặt không lý do);
  11. Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn giữa Nguyễn Thị K1 và Trần Thị Kim Y trong việc lấy qua lại sản phẩm vải may trong Công ty T11; địa chỉ tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, nên Nguyễn Thị K1 điện thoại cho chồng là Nguyễn Út D đến để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn với Trần Thị Kim Y. Đến khoảng 18 giờ, ngày 24/10/2023 Nguyễn Út D rủ Nguyễn Văn P2 và Nguyễn Minh M đi cùng đến Công ty T11. Khi đến trước cổng Công ty, Nguyễn Út D liên lạc Nguyễn Châu T (bạn trai của Trần Thị Kim Y) ra ngoài cổng Công ty để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Trong lúc nói chuyện qua lại thì giữa Nguyễn Văn P2, Nguyễn Út D, Nguyễn Minh M và Nguyễn Châu T cãi vã nên Nguyễn Văn P2, Nguyễn Út D, Nguyễn Minh M rượt đuổi đánh Nguyễn Châu T nhưng không đánh được nên bỏ về.

Sau đó, Nguyễn Châu T gọi điện thoại kể lại vụ việc bị nhóm người của Nguyễn Út D rượt đánh cho Lê Văn B1, Võ Văn T3, Nguyễn Văn P, Huỳnh Văn Chí T5 nghe và nhờ đến trước cổng Công ty T11 tiếp sức nếu có đánh nhau thì hỗ trợ, cả nhóm đồng ý. Khi đi, Lê Văn B1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh trắng, biển số 66H1-407.61 chở Võ Văn T3 (Lê Văn B1 mang theo dao tự chế, Võ Văn T3 mang theo gậy sắt cây dũ ba khúc); Huỳnh Văn Chí T5 mang theo dao tự chế, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 155, màu trắng, biển số 66H1-455.09; Nguyễn Văn P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ - đen, biển số 66H1-229.18 đến gặp Nguyễn Châu T. Khi gặp Nguyễn Văn P, Lê Văn B1, Võ Văn T3, Huỳnh Văn Chí T5 thì Nguyễn Châu T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, màu xanh đen, biển số 66H1-332.74 chở Trần Thị Kim Y cùng cả nhóm chạy về hướng phường A đi phường A, sau đó quay lại trước cổng Công Ty T11 tìm Nguyễn Thị Kiều .

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị K1 thấy nhóm của Nguyễn Châu T đứng trước cổng Công ty T11, lo sợ bị đánh nên điện thoại cho chồng là Nguyễn Út D đến rước về nhưng do Nguyễn Út D đã say rượu nên Nguyễn Văn P2 nghe điện thoại. Sau đó, Nguyễn Văn P2 điện thoại rủ Nguyễn Minh M cùng đi đến Công ty T11 gặp Nguyễn Thị K1, khi đi Nguyễn Văn P2 và Nguyễn Minh M mang theo dao tự chế. Khi đến trước cổng Công ty T11 thấy Nguyễn Châu T đang nói chuyện cự cãi với Nguyễn Thị K1 nên Nguyễn Văn P2 và Nguyễn Minh M cầm dao rượt đuổi Nguyễn Châu T chạy sang bên đường; Thấy Nguyễn Văn P2 và Nguyễn Minh M chạy đến nên Nguyễn Văn P lấy 01 (một) cái xẻng (len) nhặt được gần hiện trường cầm trên tay thủ thế đánh nhau, Nguyễn Văn P2 tiếp tục xông đến nên Nguyễn Văn P lấy xẻng (len) đánh trúng vào vai Nguyễn Văn P2, nên Nguyễn Văn P2 lùi lại phía sau thì bị Võ Văn T3 cầm cây dũ 03 khúc ném trúng vào người Nguyễn Văn P2, Huỳnh Văn C1 T5 dùng dao tự chế xông đến chém Nguyễn Văn P2 nhưng bị vấp ngã làm rơi cây dao xuống đường, Nguyễn Văn P2 chạy lùi về phía sau và bị vấp ngã, Nguyễn Châu T nhặt cây dao của Huỳnh Văn Chí T5 vừa làm rơi cùng Lê Văn B1 dùng dao tự chế chém nhiều nhát trúng vào người Nguyễn Văn P2 rồi cả nhóm bỏ đi khỏi hiện trường.

Hậu quả: Nguyễn Văn P2 bị đa chấn thương được mọi người xung quanh đưa đến bệnh viện Đ1 sơ cấp cứu và điều trị.

Ngày 27/11/2023, Nguyễn Văn P2 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với những người gây thương tích.

Vật chứng vụ án Cơ quan điều tra thu giữ gồm: 01 (một) khúc cây gỗ tròn dài 1,2 mét, đường kính tròn kích thước 18cm, trên thân cây gỗ có sơn màu đỏ trắng; 01 (một) cây dao dài 35 cm, cán tay cầm bằng gỗ dài 14 cm, phần lưỡi dao được làm bằng sắt, bén nhọn dài 21 cm, rộng 0,5cm; 01 (một) cây dũ 3 khúc, dài 64 cm, cán tay cầm được làm bằng nhựa màu đen dài 25cm, thân cây dũ được làm bằng sắt tròn dài 41cm; 01 (một) vỏ đao được làm bằng gỗ dài 56cm, rộng 0,6cm, màu vàng, trên thân có khắc hoa văn; 03 (ba) chiếc dép, trong đó 02 chiếc dép quay ngang, màu vàng và 01 chiếc dép màu trắng quay kẹp, màu trắng; hung khí là 01 cái xẻng (len) tại hiện trường và 01 (một) dao tự chế đã ném bỏ tại cầu N. Lực lượng chức năng tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 43/KLTTCT-TTPYĐT, ngày 22/12/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y1 kết luận đối với Nguyễn Văn P2: 02 (hai) sẹo vết thương phần mềm chân mài phải, nhân trung, kích thước nhỏ. Mỗi sẹo 03%; sẹo vết thương phần mềm ô mô cánh tay phải, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương 01%; 03 (ba) sẹo vết thương phần mềm bả vai phải, mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải, mắt cá trong chân trái, kích thước trung bình. Mỗi sẹo 02%; sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài gối phải kích thước lớn. Tỷ lệ tổn thương 03%.

Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y2 xác định tỷ lệ tổn thương phần trăm cơ thể của Nguyễn Văn P2 tại thời điểm giám định là 15% (áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư).

Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật sắc gây ra; cơ chế hình thành vết thương do ngoại lực tác động; sẹo vết thương phần mềm chân mài phải, nhân trung chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải; sẹo vết thương phần mềm bả vai phải chiều hướng từ sau ra trước, từ phải sang trái; sẹo vết thương phần mềm bả vai phải, mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải, mắt cá trong chân trái, kích thước trung bình chiều hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải; sẹo vết thương phần mềm ô mô cánh tay phải chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau; sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài gối phải chiều hướng từ phải sang trái, từ sau ra trước chếch từ trên xuống dưới.

Các vật chứng của vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố.

Về dân sự: các bị cáo Nguyễn Châu T, Nguyễn Văn P, Lê Văn B1, Huỳnh Văn Chí T5, Võ Văn T3 đã khắc phục bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại Nguyễn Văn P2 với số tiền 10.000.000 đồng, P2 đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm.

Trong quá trình điều tra Nguyễn Châu T, Nguyễn Văn P, Lê Văn B1, Huỳnh Văn Chí T5, Võ Văn T3 đã đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai những người bị hại, người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSTPHN ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự truy tố các bị cáo Nguyễn Châu T, Nguyễn Văn P, Lê Văn B1, Huỳnh Văn Chí T5, Võ Văn T3 phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung trong Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp như sau:

Bị cáo Nguyễn Châu T thừa nhận có gọi điện thoại kể lại vụ việc bị nhóm người của Nguyễn Út D rượt đánh cho các bị cáo Lê Văn B1, Võ Văn T3, Nguyễn Văn P, Huỳnh Văn Chí T5 nghe và nhờ đến trước cổng Công ty T11 tiếp sức nếu có đánh nhau thì hỗ trợ, cả nhóm đồng ý.

Bị cáo Lê Văn B1 thừa nhận có cùng với các bị cáo tiếp sức nếu có đánh nhau thì hỗ trợ, đồng thời, bị cáo còn chủ động mang theo dao tự chế và trực tiếp có hành vi cầm dao chém bị hại gây thương tích.

Bị cáo Nguyễn Văn P thừa nhận có cùng với các bị cáo tiếp sức nếu có đánh nhau thì hỗ trợ, đồng thời, bị cáo lấy cây xẻng (len) đánh trúng vào vai của bị hại.

Bị cáo Võ Văn T3 thừa nhận có cùng với các bị cáo tiếp sức nếu có đánh nhau thì hỗ trợ, đồng thời, bị cáo còn chủ động mang theo gậy sắt cây dũ ba khúc và có hành vi ném trúng vào người bị hại.

Bị cáo Huỳnh Văn Chí T5 thừa nhận có cùng với các bị cáo tiếp sức nếu có đánh nhau thì hỗ trợ, đồng thời, bị cáo còn chủ động mang theo dao tự chế và có hành vi xông đến chém bị hại nhưng bị vấp ngã làm rơi cây dao xuống đường, nên chưa chém được bị hại là ngoài ý muốn của bị cáo.

Bị hại khai: Từ trước đến nay, bị hại và các bị cáo không có mâu thuẫn; khi đến trước cổng Công ty T11 thấy Nguyễn Châu T đang nói chuyện cự cãi với Nguyễn Thị K1 nên bị hại và Nguyễn Minh M cầm dao rượt đuổi bị cáo Nguyễn Châu T chạy sang bên đường nên không đánh được và bị hại bị các bị cáo đánh, chém gây thương tích 15% và các bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả xong, nên không yêu cầu về dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phan Hồng T7 trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 155, màu trắng, biển số 66H1-455.09 do chị đứng tên, chủ sở hữu, khi bị cáo Huỳnh văn Chí T5 lấy đi, thì chị không biết, chị yêu cầu không tịch thu xe, mà tiếp tục cho chị sử dụng. Ngoài ra, chị không có ý kiến, yêu cầu gì thêm.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đã phát biểu lời luận tội: Khẳng định hành vi của các bị cáo Nguyễn Châu T, Lê Văn B1, Nguyễn Văn P, Võ Văn T3, Huỳnh Văn Chí T5 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Châu T, Lê Văn B1, Nguyễn Văn P, Võ Văn T3, Huỳnh Văn Chí T5 phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Châu T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù; bị cáo Lê Văn B1 từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn P từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù; bị cáo Võ Văn T3 từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù; bị cáo Huỳnh Văn Chí T5 từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Đối với việc Nguyễn Thị K1 gọi điện cho Nguyễn Văn P2, Trần Thị Kim Y gọi điện Nguyễn Châu T mục đích đến Công ty T11 để rước về, không xúi giục, kích động đánh nhau, không có chủ đích gây thương tích cho ai. Việc các bị cáo Nguyễn Châu T, Nguyễn Văn P, Lê Văn B1, Huỳnh Văn Chí T5, Võ Văn T3 gây thương tích cho Nguyễn Văn P2 là ngoài ý muốn của Nguyễn Thị K1 và Trần Thị Kim Y. Do đó, không xem xét xử lý Nguyễn Thị K1, Trần Thị Kim Y với vai trò đồng phạm trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với việc Nguyễn Văn P2, Nguyễn Út D và Nguyễn Minh M rượt đuổi đánh Nguyễn Châu T tại Công ty T11. Qua điều tra thể hiện, khi rượt đánh Nguyễn Châu T nhưng không đánh được thì Nguyễn Út D, Nguyễn Văn P2, Nguyễn Minh M không la lối gây mất trật tự và nhanh chóng bỏ đi khỏi hiện trường, nên không xem xét xử lý về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với việc Nguyễn Châu T điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, màu xanh đen, biển số 66H1-332.74. Qua điều tra xác định xe mô tô biển số 66H1-332.74 đã được Nguyễn Châu T bán lại cho người khác với giá 10.000.000đồng và đưa số tiền này khắc phục cho bị hại, tuy nhiên đây là phương tiện có liên quan đến hành vi phạm tôi của bị cáo, nên cần phải tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước, nhưng do bị cáo đã bán chiếc xe này do đó, buộc bị cáo phải nộp lại số tiền bán xe là 10.000.000đồng để tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với việc Lê Văn B1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh trắng, biển số 66H1-407.61; Nguyễn Văn P điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Future, màu đỏ- đen, biển số 66H1-229.18; Huỳnh Văn Chí T5 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter 155, màu trắng, biển số 66H1-455.09 mang theo dao tự chế đi đánh nhau. Qua điều tra, xe mô tô biển số 66H1-455.09 là tài sản của chị Phan Hồng T7; xe mô tô biển số 66H1-407.61 là tài sản của ông Lê Văn T1; xe mô tô biển số 66H1-229.18 là tài sản của ông Nguyễn Văn T2. Việc các bị cáo Lê Văn B1, Nguyễn Văn P, Huỳnh Văn Chí T5 điều khiển phương tiện xe mô tô đi đánh nhau, các chủ sở hữu phương tiện xe mô tô này không biết, không xem xét tịch thu các phương tiện này sung vào ngân sách nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[15] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Nguyễn Châu T, Lê Văn B1, Nguyễn Văn P, Võ Văn T3, Huỳnh Văn Chí T5 đã khắc phục bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại với số tiền 10.000.000đồng và bị hại đã nhận đủ tiền, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[16] Về vật chứng:

[16.1] Đối với 01 (một) khúc cây gỗ tròn dài 1,2 mét, đường kính tròn kích thước 18cm, trên thân cây gỗ có sơn màu đỏ trắng; 01 (một) cây dao dài 35 cm, cán tay cầm bằng gỗ dài 14 cm, phần lưỡi dao được làm bằng sắt, bén nhọn dài 21 cm, rộng 0,5cm; 01 (một) cây dũ 3 khúc, dài 64 cm, cán tay cầm được làm bằng nhựa màu đen dài 25cm, thân cây dũ được làm bằng sắt tròn dài 41cm; 01 (một) vỏ đao được làm bằng gỗ dài 56cm, rộng 0,6cm, màu vàng, trên thân có khắc hoa văn. Do những đồ vật này có liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử cần phải tịch thu và tiêu hủy.

[16.2] Đối với 03 (ba) chiếc dép, trong đó 02 chiếc dép quay ngang, màu vàng và 01 chiếc dép màu trắng quay kẹp, màu trắng. Đồ vật này không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa xác định được chủ sở hữu, mặc khác 03 chiếc dép này đã cũ không còn giá trị sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử cần phải tịch thu và tiêu hủy.

[17] Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý.

[18] Xét thấy luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự là có chứng cứ nên chấp nhận.

[19] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Châu T, Lê Văn B1, Nguyễn Văn P, Võ Văn T3, Huỳnh Văn Chí T5 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Châu T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Xử phạt bị cáo Lê Văn B1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Xử phạt bị cáo Võ Văn T3 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Chí T5 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Buộc bị cáo Nguyễn Châu T phải nộp lại số tiền bán xe 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) khúc cây gỗ tròn dài 1,2 mét, đường kính tròn kích thước 18cm, trên thân cây gỗ có sơn màu đỏ trắng; 01 (một) cây dao dài 35 cm, cán tay cầm bằng gỗ dài 14 cm, phần lưỡi dao được làm bằng sắt, bén nhọn dài 21 cm, rộng 0,5cm; 01 (một) cây dũ 3 khúc, dài 64 cm, cán tay cầm được làm bằng nhựa màu đen dài 25cm, thân cây dũ được làm bằng sắt tròn dài 41cm; 01 (một) vỏ đao được làm bằng gỗ dài 56cm, rộng 0,6cm, màu vàng, trên thân có khắc hoa vân; 03 (ba) chiếc dép, trong đó 02 chiếc dép quay ngang, màu vàng và 01 chiếc dép màu trắng quay kẹp, màu trắng.

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản đề ngày 03 tháng 7 năm 2024).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Châu T, Lê Văn B1, Nguyễn Văn P, Võ Văn T3, Huỳnh Văn Chí T5 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 29 tháng 8 năm 2024). Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • VKSND TP. Hồng Ngự;
  • - Cơ quan Điều tra Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Cơ quan THA HS Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Trung

14

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Phạm Thiện Bửu

Lê Thành Trung

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành T10

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Châu T, Lê Văn B1, Nguyễn Văn P, Võ Văn T3, Huỳnh Văn Chí T5 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger