TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST
Ngày 26 tháng 8 năm 2024
V/v: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phan Ngọc Anh
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Ngọc Quý
- Ông Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quý Võ - Thư ký viên
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Huynh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 115/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ T- sinh năm: 1991; trú tại: tổ A, thị trấn Vạn G, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.
- - Bị đơn: Ông Bùi Ngọc P - sinh năm: 1991; trú tại: thôn Q, xã Vạn T, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong Đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 02/4/2024, Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 15/5/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Mỹ T và ông Bùi Ngọc P tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008; đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25/2018 do Ủy ban nhân dân xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 22/02/2018.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp; bất đồng quan điểm sống; không tin tưởng, tôn trọng nhau. Ông P thường xuyên uống rượu bia; không quan tâm, chăm sóc vợ con nên giữa vợ chồng thường xảy ra xích mích, cãi vã. Bà T nhiều lần khuyên bảo để giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Đến năm 2023, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay bà T xác định không còn yêu thương ông Bùi Ngọc P và yêu cầu ly hôn.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung Bùi Gia H - sinh ngày 22/4/2019. Khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ 18 tuổi. Bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là ông Bùi Ngọc P đến Tòa để trình bày ý kiến về việc bà T khởi kiện, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông đều không có mặt nên Toà án không lấy được lời khai của ông P, không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Huỳnh Thị Mỹ T yêu cầu ly hôn với ông Bùi Ngọc P, trú tại: Thôn Quảng Hội 1, xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Bị đơn ông P đã được Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông P.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù bị đơn ông Bùi Ngọc P vắng mặt tại phiên tòa, nhưng căn cứ vào lời khai của bà T và các chứng cứ đã thu thập được thì việc kết hôn giữa bà Huỳnh Thị Mỹ T và ông Bùi Ngọc P là tự nguyện, ông bà đã đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 25/2018 do Ủy ban nhân dân xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 22/02/2018, nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P là hợp pháp.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Ngọc P: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông P đến Tòa để giải quyết vụ án ly hôn, nhưng ông đều không có mặt, chứng tỏ ông P không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa ông và bà T.
[4] Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, theo bà T trình bày là do tính tình vợ chồng không hợp; bất đồng quan điểm sống; không tin tưởng, tôn trọng nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Ông P thường xuyên uống rượu bia; không quan tâm, chăm sóc vợ con, khi bà T khuyên bảo thì mâu thuẫn vợ chồng càng gay gắt hơn. Đến năm 2023, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông P đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận.
[5] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Bùi Gia H - sinh ngày 22/4/2019.
[6] Bị đơn ông Bùi Ngọc P không có ý kiến thể hiện yêu cầu nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét yêu cầu của ông. Bà Huỳnh Thị Mỹ T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Bùi Gia H cho đến khi đủ 18 tuổi. Xét thấy, hiện nay, bà T là người đang trực tiếp nuôi dưỡng con; bà có đủ điều kiện, khả năng để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi thành niên nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chưa thành niên, cần giao cho bà Huỳnh Thị Mỹ T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi đủ 18 tuổi. Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp đạo đức xã hội nên chấp nhận.
[7] Bà T không yêu cầu ông Bùi Ngọc P cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về nợ chung: Bà T xác nhận vợ chồng không nợ chung của ai, không ai nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Bị đơn ông Bùi Ngọc P mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn và cũng không hòa giải được vụ án. Vì vậy, không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của ông.
[11] Về án phí: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng).
[12] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bà Huỳnh Thị Mỹ T được ly hôn với ông Bùi Ngọc P.
- Về con chung: Giao cho bà Huỳnh Thị Mỹ T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Bùi Gia H - sinh ngày 22/4/2019 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Bà Huỳnh Thị Mỹ T không yêu cầu ông Bùi Ngọc P cấp dưỡng nuôi con.
Ông Bùi Ngọc P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết bà T, ông P có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Mỹ T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Huỳnh Thị Mỹ T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006960 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh; bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phan Ngọc Anh |
Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Huỳnh Thị Mỹ T - Bùi Ngọc P
