TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI TỈNH NGHỆ AN ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————— |
Bản án số 38/2024/HS-ST Ngày 20 – 8 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bay
Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
Bà Tô Thị Thanh Hoa.
Nơi công tác: Hội nông dân thị xã Hoàng Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trọng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Văn Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 7 năm 2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với:
- Các bị cáo:
- Trần Văn H, sinh ngày 16 tháng 7 năm 2006, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Phạm Văn Hoàng L, sinh ngày 18 tháng 6 năm 2006, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn B, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và bà Bùi Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Trần Văn Đ, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2006, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Phạm Thị T2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Đậu Minh Q, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1997, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Sửa chữa điện tử; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đậu Minh C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; vợ: Nguyễn Hoàng Đ1 và có 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 24 tháng 5 năm 2024 đến ngày 30 tháng 5 năm 2024; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện cho bị cáo Trần Văn H: Anh Trần Văn T, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người đại diện cho bị cáo Phạm Văn Hoàng L: Chị Bùi Thị V, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn B, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người đại diện cho bị cáo Trần Văn Đ: Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Trần Văn H, Phạm Văn Hoàng L, Trần Văn Đ: Bà Phan Thị T3 – Là trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH C4 (Việt Nam). Địa chỉ: Khu Công nghiệp H, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Cao Khắc K, sinh năm 1989; nơi cư trú: Xóm Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong các ngày 16/5/2024 và 19/5/2024, tại Công ty TNHH C4 (Việt Nam) có trụ sở tại khu công nghiệp H (thuộc thôn I, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An), Trần Văn H, Phạm Văn Hoàng L, Trần Văn Đ đã thực hiện 02 (hai) vụ trộm cắp tài sản, sau đó bán tài sản chiếm đoạt được cho Đậu Minh Q, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 16/5/2024, Trần Văn H sử dụng điện thoại gọi cho Phạm Văn Hoàng L thông qua ứng dụng mesenger Rủ ra khu công nghiệp H 1 trộm laptop kiếm tiền tiêu xài cá nhân thì L đồng ý. Khoảng 11 giờ 30 phút, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 37L1-559.50 của anh Trần Văn T (bố H) đến nhà L chở L ra khu công nghiệp H. Khi đến khu công nghiệp H, H và L để xe mô tô ở bãi đậu xe của công nhân thuộc Công ty TNHH C4 (Việt Nam) và đi vào trong xưởng. Khi vào trong xưởng sản xuất số 2, H và L thấy 03 (ba) máy tính laptop đang để trên bàn làm việc, quan sát không thấy ai trong xưởng nên đi vào lấy trộm 01 (một) chiếc máy tính màu đen nhãn hiệu Redmi book pro 2022 cất giấu trong người, còn H đi vào lấy trộm 02 (hai) chiếc máy tính màu bạc nhãn hiệu Hp 66R5 cất giấu trong người rồi cả hai đi ra cổng chính công ty, điều khiển xe mô tô về nhà H. Khi về nhà H, H và L mở máy lên kiểm tra thì cả 03 (ba) máy lấy trộm được đều có mật khẩu bảo mật nên không mở được. H nói với L để máy ở nhà, chiều mang sang quán Đậu Minh Q phá khóa mật khẩu. Sau đó, H gọi điện thoại cho Q hỏi Q phá khóa mật khẩu được và giá phá khóa mỗi máy 200.000 đồng. Đậu Minh Q bảo nếu phá khóa được, giá phá khóa mỗi máy 200.000 đồng. 18 giờ cùng ngày, L đến nhà H mang 03 (ba) máy tính trộm cắp được đến quán Q đưa cho Q phá khóa. Sau khi mở 03 (ba) máy kiểm tra, Q thấy 03 (ba) máy đều có mật khẩu khóa thời sau khi phá khóa xong thì Q thấy dữ liệu phần mềm đều là tiếng Trung Quốc nên Q biết máy tính do H và L trộm cắp của người Trung Quốc. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Q gọi điện thoại bảo cho H máy đã phá khóa mật khẩu xong thì H chuyển khoản cho Q 200.000 đồng trong đó 600.000 đồng tiền công phá khóa mật khẩu, 200.000 đồng H mua 01 (một) dây sạc máy tính.
Đến sáng ngày 17/5/2024, H và L đến quán Q lấy 03 (ba) máy tính. Sau đó, H điều khiển xe mô tô 37L1-559.50 chở L vào thành phố V, tỉnh Nghệ An tìm chỗ bán. Khoảng 14 giờ cùng ngày, H và L đến một quán không rõ địa chỉ tại thành phố V, gặp một người đàn ông bán 01 (một) máy tính nhãn hiệu HP 66R5 màu bạc với giá 2.700.000 đồng, số tiền này H và L chia đôi mỗi người 1.350.000 đồng. Còn 01 (một) máy tính Redmi book pro 2022 màu đen và 01 (một) máy tính nhãn hiệu HP 66R5 màu bạc do bán được giá thấp nên L và H không bán nữa mà mang về nhà. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, L và H mang 01 (một) máy tính nhãn hiệu HP 66R5 màu bạc đến quán Q hỏi có mua máy tính không. Mặc dù, Q biết máy tính trên do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 3.000.000 đồng, số tiền này được Quang trừ vào số tiền mà H đã vay trước đó. Sau đó, L và H đến cửa hàng vàng bạc Loan C2 tại phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Lúc này, H đứng ngoài còn L mang 01 (một) máy tính Redmi book pro 2022 màu đen vào cầm cố được số tiền 700.000 đồng. Nhưng, L đi ra nói với H cần có được 1.500.000 đồng rồi L chia cho H số tiền 750.000 đồng. Sau đó, H đưa thêm cho L số tiền 1.500.000 đồng là tiền đã bán máy tính cho Q trước đó. Số tiền bán máy tính, cầm cố máy tính trên L và H tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 18 giờ ngày 19/5/2024, Trần Văn Đ đi ra khu công nghiệp H với mục đích trộm cắp tài sản. Sau đó, Đ nhìn thấy tại xưởng sản xuất số B- xưởng cắt lát thuộc Công ty TNHH C4 (Việt Nam) có 02 (hai) máy tính laptop để trên bàn làm việc nên đã gọi điện thoại cho H rủ ra khu công nghiệp để cùng trộm cắp 02 máy tính trên thì H đồng ý (trước đó, H có nói với Đ khi nào thấy có máy tính trộm được thì bảo H để lấy trộm). Khoảng 30 phút sau, H điều khiển xe mô tô 37L1-559.50 ra khu công nghiệp H gặp Đ. H dẫn Đ đến nơi có 02 máy tính để trên. Quan sát không có ai, cửa phòng làm việc bị khóa nên H bảo Đ đi tìm thang để trèo vào. Sau khi tìm được thang, H bảo Đ đứng ngoài cảnh giới còn H trèo thang vào bên trong phòng làm việc của Công ty TNHH C4 (Việt Nam) lấy trộm 01 (một) máy tính nhãn hiệu Mechrevo màu đen xám và 01 (một) máy tính nhãn hiệu Lennovo màu xám rồi quay ra. Sau đó, H và Đ mang 02 (hai) máy tính laptop vừa trộm được về phòng nghỉ Đ thuê trọ trước đó tại nhà nghỉ C5 ở phường H, thị xã H. H và Đạt mở 02 (hai) máy tính lên thì thấy đều có mật khẩu bảo mật khóa nên không mở được nên H nói đem máy đến quán Q phá khóa mật khẩu rồi đi về. Đến tối ngày 20/5/2024, H gọi điện thoại cho Q hỏi Q phá khóa mật khẩu thì Q đồng ý. H gọi điện cho Đ bảo Đ mang 02 máy tính đến quán Q để Q phá khóa. Sau đó, Đ gọi điện thoại cho L bảo L đến nhà nghỉ C5 lấy 02 máy tính laptop mang đến quán Q để Q phá khóa mật khẩu. Đã phá khóa mật khẩu xong, Đ nói cho L biết 02 máy tính trên là do Đ trộm cắp ngoài khu công nghiệp H mà có nhưng L vẫn đến nhà nghỉ C3 lấy 02 máy mang đến cho Q phá khóa mật khẩu. Khi nhận được máy tính, Q biết rõ 02 máy tính trên là do phạm tội mà có nhưng vẫn tiến hành phá khóa, sau khi phá khóa xong vẫn cất giữ máy tính tại quán đợi L đến lấy máy tính và trả tiền công.
Ngày 22/5/2024, khi phát hiện Công ty bị mất trộm 05 máy tính laptop, anh Cao Khắc K đã được Công ty TNHH C4 (Việt Nam) ủy quyền đến Công an xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An trình báo sự việc. Cùng ngày, Trần Văn H, Phạm Văn Hoàng L, Trần Văn Đ đến Công an xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Ngày 24/5/2024, Đậu Minh Q đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An đầu thú về hành vi phạm tội của mình đồng thời giao nộp 03 máy tính laptop: 01 (một) máy tính nhãn hiệu HP 66R5 màu bạc, 01 (một) máy tính nhãn hiệu Mechrevo màu đen xám và 01 (một) máy tính nhãn hiệu Lennovo cho Cơ quan Công an.
Tại Kết luận định giá số 12 ngày 29/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã H kết luận:
- - 01 (một) chiếc máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Redmi book pro 2022, i5, máy đã qua sử dụng, tình trạng sử dụng bình thường, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 5.000.000 đồng.
- - 01 (một) chiếc máy tính xách tay màu bạc, nhãn hiệu Hp 66R5, i5, máy đã qua sử dụng, tình trạng sử dụng bình thường, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 5.000.000 đồng.
- - 01 (một) chiếc máy tính xách tay màu bạc, nhãn hiệu Hp 66R5, i5, máy đã qua sử dụng, tình trạng sử dụng bình thường, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 5.000.000 đồng.
- - 01 (một) chiếc máy tính xách tay màu đen xám, nhãn hiệu Mechrevo, i7-12650H, 1 TB, máy đã qua sử dụng, tình trạng sử dụng bình thường, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 9.000.000 đồng.
- - 01 (một) chiếc máy tính xách tay màu đen xám, nhãn hiệu Lennovo Y9000P, i9, máy đã qua sử dụng, tình trạng sử dụng bình thường, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 9.000.000 đồng.
Tổng giá trị các tài sản bị chiếm đoạt là 30.000.000 đồng.
Cáo trạng số 43/CT-VKS-HM ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Phạm Văn Hoàng L về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đậu Minh Q về tội “Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng; luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g, khoản 1, Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn H 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 36 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn Đ mức án từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 38; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn Hoàng L mức án từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt mức án từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là từ 14 tháng đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 28 tháng đến 36 tháng.
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 5, Điều 323; điểm g, khoản 1, Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đậu Minh Q mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng về tội “Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Phạt bổ sung 5.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình các bị cáo Trần Văn H, Phạm Văn Hoàng L, Trần Văn Đ đã bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Sam sung Galaxy G, IMEI 1: 358218092424676, IMEI 2: 358219092424674, máy đã qua sử dụng thu giữ của Đậu Minh Q;
- - 01 (một) điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Sam sung Galaxy J2 Prime, IMEI 1: 359498094184093, IMEI 2: 359499094184091, máy đã qua sử dụng thu giữ của Trần Văn H;
- - 01 (một) điện thoại di động màu xám, nhãn hiệu Sam sung Galaxy Note 8, IMEI 1: 353759098006020, IMEI 2: 353760098006028, máy đã qua sử dụng, bị rạn nứt mặt trước và mặt sau thu giữ của Trần Văn Đ;
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền do phạm tội mà có tại bị cáo Trần Văn H 1.500.000 đồng và Phạm Văn Hoàng L 1.500.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không có tranh luận gì.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, không có yêu cầu gì thêm.
Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn Đ, Phạm Văn Hoàng L không có ý kiến tranh luận gì.
Người bào chữa cho các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn Đ, Phạm Văn Hoàng L: Không có ý kiến về tội danh và khung hình phạt đối với các bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo; các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo để xem xét giảm nhẹ và miễn trách nhiệm đối với các bị cáo; đề nghị Đại diện Viện kiểm sát và cho bị cáo Trần Văn Đ được cải tạo không giam giữ.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi câu mình là sai trái, vi phạm pháp luật. Vì vậy, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo được cải tạo tại địa phương, có cơ hội sửa chữa, khắc phục những sai lầm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của bị hại: Xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo đúng quy định.
[3]. Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
- Ngày 16/5/2024, Trần Văn H và Phạm Văn Hoàng L đã lén lút trộm cắp của Công ty TNHH C4 (Việt Nam) có trụ sở tại khu công nghiệp H (thuộc thôn I, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An), 03 (ba) chiếc máy tính laptop có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 15.000.000 đồng. Mặc dù không hứa hẹn trước và biết là tài sản do phạm tội mà có nhưng Đậu Minh Q vẫn đồng ý phá khóa mật khẩu 03 máy tính trên, đồng thời mua lại 01 chiếc máy tính trên với giá 3.000.000 đồng.
- Ngày 19/5/2024: Trần Văn H và Trần Văn Đ đã lén lút trộm cắp của Công ty TNHH C4 (Việt Nam) có trụ sở tại khu công nghiệp H (thuộc thôn I, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An), 02 (hai) chiếc máy tính laptop có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 15.000.000 đồng. Mặc dù không hứa hẹn trước và biết là tài sản do phạm tội mà có nhưng Phạm Văn Hoàng L và Đậu Minh Q vẫn đồng ý cất giữ 02 máy tính trên và phá khóa mật khẩu giúp Đ2 và H.
Như vậy, hành vi của các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn Đ đều yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của Phạm Văn Hoàng L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 và khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của Đậu Minh Q đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 323 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về hình phạt chính: Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, do đó khi quyết định hình phạt, cần phải xem xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất tham gia và mức độ tham gia của từng người đồng phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng người đồng phạm.
Bị cáo Trần Văn H là người khởi xướng và tích cực thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, là người trực tiếp lấy tài sản và mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội từ 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Phạm Văn Hoàng L là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo cùng với Trần Văn H lấy trộm tài sản và mang đi bán lấy tiền tiêu xài; chứa chấp tài sản do Trần Văn H và Trần Văn Đ trộm cắp được. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về 02 hành vi của mình. Xét bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Trần Văn Đ là người khởi xướng và rủ rê Trần Văn H thực hiện hành vi phạm tội; tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Đậu Minh Q mặc dù biết các tài sản do H, L, Đ đưa đến nhờ phá khóa mật khẩu là tài sản do phạm tội mà có, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi tiêu thụ và chứa chấp các tài sản đó, giúp các bị cáo có thêm động lực để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện 02 hành vi tiêu thụ và chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội từ 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú; ngoài ra, bị cáo có ông bà là người có công với nhà nước được tặng Huy chương kháng chiến và Bằng khen. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối với các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn Đ, Phạm Văn Hoàng L phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, độ tuổi của bị cáo có sự thay đổi về tâm sinh lý, chưa nhận thức được đầy đủ về tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi của mình gây ra, dễ bị tác động, ảnh hưởng từ môi trường sống; việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, cần áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện đúng chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cùng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần thiết phải phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đậu Minh Q. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trần Văn H, Trần Văn Đ và Phạm Văn Hoàng L.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường và không có ai yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Sam sung Galaxy G, IMEI 1: 358218092424676, IMEI 2: 358219092424674, máy đã qua sử dụng thu giữ của Đậu Minh Q.
- - 01 (một) điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Sam sung Galaxy J2 Prime, IMEI 1: 359498094184093, IMEI 2: 359499094184091, máy đã qua sử dụng thu giữ của Trần Văn H;
- - 01 (một) điện thoại di động màu xám, nhãn hiệu Sam sung Galaxy Note 8, IMEI 1: 353759098006020, IMEI 2: 353760098006028, máy đã qua sử dụng, bị rạn nứt mặt trước và mặt sau thu giữ của Trần Văn Đ.
Đây là vật chứng của vụ án, vì vậy cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền do phạm tội mà có tại bị cáo Trần Văn H 1.500.000 đồng và Phạm Văn Hoàng L 1.500.000 đồng.
[8]. Về án phí: Các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Văn Hoàng L, Đậu Minh Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn H là đối tượng thuộc gia đình hộ cận nghèo.
[9]. Đối với hành vi cầm cố 01 máy tính cho chị Trần Thị Châu L1 (sinh năm 1991, trú tại khối B, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An) mà H và L khai, quá trình điều tra, chị L1 không thừa nhận có việc cầm cố trên, ngoài ra không có tài liệu khác chứng minh nên không có cơ sở để điều tra xử lý. Đối với người đàn ông tại thành phố V, tỉnh Nghệ An mà H, L bán 01 máy tính, H và L không quen biết, không nhớ địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
Đối với chị Bùi Thị V (sinh năm 1984, trú tại thôn B, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An) cho Phạm Văn Hoàng L mượn điện thoại và anh Trần Văn T (sinh năm 1981, trú tại thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An) cho Trần Văn H mượn chiếc xe mô tô 37L1-559.50 nhưng chị V và anh T không biết L và H sử dụng điện thoại, chiếc xe mô tô làm phương tiện để phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[10]. Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g, khoản 1, Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn H 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 36 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 20/8/2024.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 20/8/2024.
- Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 38; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn Hoàng L 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 tháng về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 20/8/2024.
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 5, Điều 323; điểm g, khoản 1, Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đậu Minh Q mức án 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 36 tháng về tội “Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 20/8/2024. Phạt bổ sung 5.000.000 đồng.
Giao bị cáo nhân dân xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Sam sung Galaxy G, IMEI 1: 358218092424676, IMEI 2: 358219092424674, máy đã qua sử dụng thu giữ của Đậu Minh Q;
- - 01 (một) điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Sam sung Galaxy J2 Prime, IMEI 1: 359498094184093, IMEI 2: 359499094184091, máy đã qua sử dụng thu giữ của Trần Văn H;
- - 01 (một) điện thoại di động màu xám, nhãn hiệu Sam sung Galaxy Note 8, IMEI 1: 353759098006020, IMEI 2: 353760098006028, máy đã qua sử dụng, bị rạn nứt mặt trước và mặt sau thu giữ của Trần Văn Đ;
(Đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An).
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền do phạm tội mà có tại bị cáo Trần Văn H 1.500.000 đồng và Phạm Văn Hoàng L 1.500.000 đồng.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1, Điều 12; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa: Buộc các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Văn Hoàng L, Đậu Minh Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn H.
4. Về quyền kháng cáo: Người đại diện theo quy định của pháp luật cho bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Mạnh |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An về trộm cắp tài sản và chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Hậu và đồng phạm
