Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/DS-ST

Ngày 21-6-2024

V/v "Tranh chấp về thừa kế tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Công Hạnh và bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phụng Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiền – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 213/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hương Q, sinh năm 1977; Địa chỉ: C M, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên và bà Phan Lê Mỹ D, sinh năm 1999; Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Ông Q có mặt tại phiên toà, bà D có đơn xin vắng mặt phiên toà.
  2. Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1947; Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Võ Trần Tiểu Phi V, sinh năm 1983; Địa chỉ: A L, Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Võ Hoàng Quỳnh T1, sinh ngày 01/3/2008; Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985 (Mẹ ruột); Đồng trú: Tổ 10, khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Chị T1 có đơn xin vắng mặt, bà T vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày: Bà Nguyễn Thị T và ông Võ Hoàng T2 là vợ chồng, đăng ký kết hôn vào ngày 08/5/2007 tại Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Ngày 17/7/2018, ông Võ Hoàng T2 bị tai nạn giao thông chết không để lại di chúc, theo trích lục khai tử số 24/2018/TLKT ngày 18/7/2018 của Ủy ban nhân dân Phường H1, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Trong quá trình chung sống, ông T2 và bà T có một con chung tên Võ Hoàng Quỳnh T1, sinh ngày 01/3/2008 và vợ chồng có tạo lập một căn nhà cấp 4 trên diện tích đất thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số 15, diện tích 61,9m² tại tổ A, khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 811971, số vào sổ cấp GCN: CH 01372 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 06/11/2013 cho ông Võ Hoàng T2, bà Nguyễn Thị T. Hiện nay theo hàng thừa kế thứ nhất đối với phần di sản của ông T2 để lại gồm mẹ ruột là bà Trần Thị H, vợ là bà Nguyễn Thị T, con là chị Võ Hoàng Quỳnh T1, còn cha ruột là ông Võ Đông L đã chết vào ngày 19/7/2000, theo trích lục khai tử số 390/TLKT-BS ngày 09/11/2023 của Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Ngoài ra, ông T2 không có cha mẹ nuôi và con nuôi nào khác.

Do đó, bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Võ Hoàng T2 gồm: ½ giá trị nhà, đất tại thửa đất số 292, tờ bản đồ số 15, diện tích 61,9m², địa chỉ thửa đất tại tổ A, khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên cho hàng thừa kế thứ nhất gồm bà Trần Thị H, bà Nguyễn Thị T và chị Võ Hoàng Quỳnh T1 theo quy định pháp luật. Bà T yêu cầu được nhận tài sản và thanh toán lại giá trị bằng tiền cho các đồng thừa kế. Ngoài ra, không yêu cầu chia di sản nào khác. Về công sức tôn tạo, bảo quản di sản thừa kế, bà Nguyễn Thị T không yêu cầu thanh toán công sức cho việc quản lý di sản cũng như là yêu cầu về các chi phí khác có liên quan đến di sản thừa kế.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn, bà Võ Trần Tiểu Phi V trình bày: Bà Nguyễn Thị T và ông Võ Hoàng T2 là vợ chồng, có một con chung là Võ Hoàng Quỳnh T1. Ông Võ Hoàng T2 đã chết vào năm 2018, không để lại di chúc. Hiện nay theo hàng thừa kế thứ nhất của ông T2 gồm: Bà Trần Thị H (mẹ ruột ông T2), bà Nguyễn Thị T (vợ ông T2), chị Võ Hoàng Quỳnh T1 (con ông T2), ông Võ Đông L (cha ruột) đã chết vào năm 2000. Do đó, bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Võ Hoàng T2 gồm: Nhà, đất thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số 15, diện tích 61,9m² tại tổ A, khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên cho hàng thừa kế thứ nhất gồm bà Trần Thị H, bà Nguyễn Thị T và chị Võ Hoàng Quỳnh T1, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Hoàng Quỳnh T1 vắng mặt nhưng có ý kiến trình bày tại đơn xin vắng mặt phiên toà ngày 07/12/2023 và đơn yêu cầu ngày 09/01/2024: Chị là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án yêu cầu chia di sản thừa kế đối với nhà và quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn bà Trần Thị H, chị thống nhất theo ý kiến của mẹ chị là bà Nguyễn Thị T. Nếu chị được Toà án phân chia và được nhận di sản thừa kế của cha chị là ông Võ Hoàng T2, thì phần di sản của chị được hưởng giao lại cho bà Nguyễn Thị T quản lý, cất giữ cho đến khi chị đủ 18 tuổi, vì hiện nay chị còn đi học và chưa đủ 18 tuổi. Chị xin được vắng mặt tại các phiên hoà giải, xét xử.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến đã trình bày.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với di sản thừa kế của ông Võ Hoàng T2 để lại gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 292, tờ bản đồ số 15, diện tích đo đạc hiện trạng thực tế là 61,9m² tại tổ A, khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Xác định những người được hưởng thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Võ Hoàng T2 là bà Trần Thị H, bà Nguyễn Thị T, chị Võ Hoàng Quỳnh T1. Xác định tổng giá trị di sản trị giá là 485.637.656 đồng, chia thành 03 kỷ phần bằng nhau, tương đương mỗi kỷ phần trị giá là 161.879.218 đồng. Bà Trần Thị H, bà Nguyễn Thị T, chị Võ Hoàng Quỳnh T1, mỗi người được nhận một kỷ phần trị giá là 161.879.218 đồng. Bà Nguyễn Thị T nhận hiện vật là nhà, đất và có nghĩa vụ thanh toán kỷ phần thừa kế cho bà Trần Thị H số tiền 161.879.218 đồng, chị Võ Hoàng Quỳnh T1 số tiền 161.879.218 đồng. Giao cho bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm quản lý đối với kỷ phần thừa kế mà chị Võ Hoàng Quỳnh T1 được nhận theo quy định pháp luật. Về án phí: Những người được hưởng thừa kế phải chịu án phí có giá ngạch theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn bà Trần Thị H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chia di sản thừa kế, bị đơn có nơi cư trú và bất động sản tại thành phố T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
    2. Về giải quyết vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành triệu tập hợp lệ người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn để xét xử nhưng vắng mặt. Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
  2. Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
    1. Về thời điểm mở thừa kế và thời hiệu khởi kiện: Căn cứ Bản sao Trích lục khai tử ngày 18/7/2018 của Ủy ban nhân dân Phường H1, thành phố T, tỉnh Phú Yên, ông Võ Hoàng T2 đã chết vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 17/7/2018 nên thời điểm mở thừa kế được xác định là ngày 17/7/2018. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Võ Hoàng T2 gồm ½ giá trị nhà, đất thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất tại tổ A, khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2023 là trong thời hiệu khởi kiện 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế (ngày 17/7/2018), được quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự.
    2. Về địa điểm mở thừa kế: Là nơi cư trú cuối cùng của ông Võ Hoàng T2 tại tổ A, khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
    3. Về xác định di sản thừa kế: Tại Công văn số 2421/CNVPĐKĐĐ ngày 21/12/2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T cung cấp: Thửa đất số 292, tờ bản đồ số 15, diện tích 61,9m², đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại tổ A, khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên do ông Võ Hoàng T2, bà Nguyễn Thị T đứng tên chủ quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 811971, được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 06/11/2013, số vào sổ cấp GCN: CH 01372. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định nhà, đất thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất tại tổ A, khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên là tài sản chung của ông Võ Hoàng T2, bà Nguyễn Thị T được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Năm 2018, ông Võ Hoàng T2 chết không để lại di chúc định đoạt tài sản nên ½ di sản thừa kế là nhà, đất của ông Võ Hoàng T2 được chia thừa kế theo pháp luật.
    4. Về diện, hàng và người thừa kế: Căn cứ kết quả xác minh của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà về nhân thân họ hàng của ông Võ Hoàng T2, lời trình bày của đương sự và giấy cam đoan của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về hàng thừa kế thứ nhất. Tại thời điểm mở thừa kế, hàng thừa kế thứ nhất của ông Võ Hoàng T2 gồm mẹ ruột là bà Trần Thị H, vợ là bà Nguyễn Thị T và con ruột là chị Võ Hoàng Quỳnh T1, cha ruột tên Võ Đông L đã chết vào ngày 19/7/2000, trước thời điểm mở thừa kế. Ngoài ra, ông Võ Hoàng T2 không có cha mẹ nuôi và con nuôi nào khác. Do đó, đủ cơ sở xác định tại thời điểm nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế thì người thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông Võ Hoàng T2 là bà Trần Thị H, bà Nguyễn Thị T và chị Võ Hoàng Quỳnh T1.
    5. Về phân chia di sản thừa kế:
      1. Tại Biên bản định giá tài sản ngày 14/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T thì di sản thừa kế có giá trị là 971.275.312 đồng (trong đó giá trị nhà là 191.335.312 đồng, giá trị đất theo giá thị trường là 779.940.000 đồng). Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thống nhất với giá trị tài sản mà Hội đồng định giá đã xác định. Căn cứ vào Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi” nên giá trị nhà, đất được chia cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T là ½, tương ứng với số tiền 485.637.656 đồng, phần giá trị 485.637.656 đồng của ông Võ Hoàng T2 là di sản thừa kế chưa chia. Ông Võ Hoàng T2 chết không để lại di chúc nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, chia thừa kế theo pháp luật.
      2. Căn cứ vào các Điều 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự, di sản của ông Võ Hoàng T2 có giá trị theo kết quả định giá là 485.637.656 đồng, được chia cho hàng thừa kế thứ nhất gồm 03 người là bà Trần Thị H, bà Nguyễn Thị T và chị Võ Hoàng Quỳnh T1. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, di sản được chia như sau: Bà Trần Thị H, bà Nguyễn Thị T và chị Võ Hoàng Quỳnh T1, mỗi người được hưởng một kỷ phần thừa kế có giá trị là 161.879.218 đồng. Hiện bà Nguyễn Thị T là người trực tiếp quản lý di sản, có nhu cầu được nhận hiện vật là nhà, đất nên cần giao cho bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đối với di sản nêu trên và có nghĩa vụ thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho bà Trần Thị H, chị Võ Hoàng Quỳnh T1, mỗi người là 161.879.218 đồng. Do chị Võ Hoàng Quỳnh T1 còn đi học và chưa đủ 18 tuổi, có đơn yêu cầu nhờ mẹ ruột là bà Nguyễn Thị T quản lý kỷ phần thừa kế của chị được nhận cho đến khi chị đủ 18 tuổi nên cần giao cho bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm quản lý theo quy định pháp luật.
      3. Sau khi nguyên đơn bà Nguyễn Thị T thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán cho các đồng thừa kế bà Trần Thị H và chị Võ Hoàng Quỳnh T1, thì nguyên đơn được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà theo quy định pháp luật.
      4. Về công sức tôn tạo, bảo quản di sản thừa kế, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T không yêu cầu thanh toán công sức cho việc quản lý di sản cũng như là yêu cầu về các chi phí khác có liên quan đến di sản thừa kế nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
    6. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; đo đạc bằng máy và định giá tài sản: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; đo đạc bằng máy và định giá tài sản là 6.228.000 đồng. Bà Trần Thị H, bà Nguyễn Thị T và chị Võ Hoàng Quỳnh T1, mỗi người phải chịu số tiền 2.076.000 đồng. Bà Nguyễn Thị T đã nộp tạm ứng số tiền 6.228.000 đồng nên bà Trần Thị H và chị Võ Hoàng Quỳnh T1, mỗi người phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 2.076.000 đồng.
    7. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị T, chị Võ Hoàng Quỳnh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị kỷ phần thừa kế mà mình được nhận. Ngày 17/6/2024, bị đơn bà Trần Thị H có đơn xin miễn án phí do thuộc diện người cao tuổi nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử xét miễn nộp toàn bộ án phí cho bị đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 33, 66, 75, 76 Luật hôn nhân và gia đình.

Các Điều 56, 58, 59, 609, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
  2. Chia di sản thừa kế của ông Võ Hoàng T2 là ½ giá trị nhà, đất tại thửa đất số 292, tờ bản đồ số 15, diện tích 61,9m², địa chỉ thửa đất tại tổ A, khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 811971, số vào sổ cấp GCN: CH 01372 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 06/11/2013 cho ông Võ Hoàng T2, bà Nguyễn Thị T thành 03 kỷ phần bằng nhau cho bà Trần Thị H, bà Nguyễn Thị T và chị Võ Hoàng Quỳnh T1, mỗi kỷ phần thừa kế trị giá là 161.879.218 đồng.

    Giao cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đối với di sản là nhà, đất tại thửa đất số 292, tờ bản đồ số 15, diện tích 61,9m², địa chỉ thửa đất tại tổ A, khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 811971, số vào sổ cấp GCN: CH 01372 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 06/11/2013 cho ông Võ Hoàng T2, bà Nguyễn Thị T (Theo Bảng vẽ mặt bằng hiện trạng nhà và đất ngày 29/01/2024 của Công ty TNHH Đ).

    Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ thanh toán kỷ phần thừa kế trị giá 161.879.218 đồng cho bà Trần Thị H.

    Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ thanh toán kỷ phần thừa kế trị giá 161.879.218 đồng cho chị Võ Hoàng Quỳnh T1. Giao cho bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm quản lý đối với kỷ phần thừa kế mà chị Võ Hoàng Quỳnh T1 được nhận theo quy định pháp luật.

    Sau khi nguyên đơn bà Nguyễn Thị T thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán cho các đồng thừa kế bà Trần Thị H và chị Võ Hoàng Quỳnh T1, thì nguyên đơn được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà theo quy định pháp luật.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự.

  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; đo đạc bằng máy và định giá tài sản: Căn cứ các Điều 157, 165 Bộ luật tố tụng Dân sự. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; đo đạc bằng máy và định giá tài sản là 6.228.000 đồng. Bà Trần Thị H, bà Nguyễn Thị T và chị Võ Hoàng Quỳnh T1, mỗi người phải chịu số tiền 2.076.000 đồng. Bà Nguyễn Thị T đã nộp tạm ứng số tiền 6.228.000 đồng nên bà Trần Thị H và chị Võ Hoàng Quỳnh T1, mỗi người phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 2.076.000 đồng.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  5. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu 8.093.960 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 12.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0012759 ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên nên được hoàn lại số tiền 3.906.040 đồng.

    Bị đơn bà Trần Thị H được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Hoàng Quỳnh T1 phải chịu 8.093.960 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Tuy Hoà;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 38/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Nguyễn Thị Thảo và bị đơn Trần Thị Hồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger