|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày 20-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Quang và Ông Lữ Văn Thành
Thư ký phiên tòa: Ông Lô Quốc Ất- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Trần Hoàng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Kêm Văn S, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 22 tháng 01 năm 2003 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Na Cáng, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kêm Văn T và con bà Lương Thị M; Vợ, con: Chưa có ; Tiền án,tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 02 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Công T1 trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (Có mặt)
Người chứng kiến:
+ Anh Vi Văn K.Trú tại: Bản N, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 17/02/2024, Kêm Văn S đang ở nhà thuộc bản N, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An thì lên cơn nghiện chất ma túy nên đã đi bộ từ nhà ra ngã ba bản N (khoảng 01 km) thì thấy một người đàn ông không quen biết đang điều khiển xe mô tô theo hướng xã Y đi xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An. S vẫy tay thì người đàn ông đó dừng xe lại, S hỏi người đàn ông đó: “Có ma túy không?"; người đàn ông trả lời: “Có”. Nên S đã đưa cho người đàn ông đó số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) người đàn ông cầm tiền rồi đưa lại cho S 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. Sau khi mua xong Kêm Văn S đi bộ về nhà và cất gói ma túy trong túi quần trước bên trái đang mặc.
Đến khoảng 11 giờ 10 phút, ngày 18/02/2024, Kêm Văn S đang ở nhà thì bị tổ công tác Công an xã Y tiến hành bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện và thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Kêm Văn S có 01 (một) gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma tuý Heroine). Kêm Văn S khai nhận với tổ công tác số chất bột màu trắng trong gói nilon là Heroine của S mua để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Cùng ngày, Công an xã Y đã chuyển hồ sơ, vật chứng cùng người bị bắt đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T để điều tra, xác minh làm rõ theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số: 264/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 24/02/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh N, kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Kêm Văn S gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng thu giữ của Kêm Văn S có khối lượng là 0,3 g (không phẩy ba gam)”.
Bản Cáo trạng số 35/CT-VKS-TD ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Kêm Văn S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Kêm Văn S mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Miễm án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.
Người bào chữa cho bị cáo Kêm Văn S không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của các bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên lượng hình ở mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo cụ thể mức án là 01 năm tù,miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Kêm Văn S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18/02/2024, tại nhà riêng ở bản N, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An, Kêm Văn S đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,3g (không phẩy ba gam) Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho T2. Hiện cơ quan điều ra chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xử lý.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Kêm Văn S 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/02/2024.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 13.5.2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);
[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Kêm Văn S.
[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 20/6/2024.
Vì các lẽ trên;
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Cường |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kêm Văn S- TTTPCMT
