Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 38/2024/HS-PT

Ngày 20/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Cường;

Bà Vũ Thị Thanh Hòa;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bùi Tuyết Hân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Bích, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo Lê Thị C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 165/2023/HS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam.

Bị cáo có kháng cáo: Lê Thị C, (tên gọi khác G), sinh năm 1974, tại Bình Thuận.

Nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Minh C1 (đã chết) và bà Lương Thị B; Chồng: ông Nguyễn C2, Con: có 03 người con; Tiền sự; tiền án: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/5/2023 cho đến nay. Bị cáo đang tại ngoại, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 06/3/2023, Lê Thị C bán số lô đề tại nhà của mình ở thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận cho bà Phạm Thị B1 (sinh năm 1981, trú thôn K, xã T) các số 28, 39, 79, 86, mỗi số mua đầu với số tiền 50.000 đồng của hai đài Đồng Tháp và thành phố Hồ Chí Minh, bà B1 đưa cho C số tiền 400.000 đồng. Do quen biết nên C không ghi phơ đề cho bà B1 mà chỉ ghi vào phơ đề của C. Cùng lúc này, Phòng C4 Công an tỉnh B vào kiểm tra và bắt quả tang C về hành vi đánh bạc.

Tang vật thu giữ bao gồm:

  • 02 phơ đề ghi trên giấy vở học sinh đề ngày 06/3/2023;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, số IMEI 1: 357748103407212, số IMEI 2: 357748103407211, sử dụng số điên thoại 1: 0763602929, số điện thoại 2: 0866713872;
  • Tiền Ngân hàng N: 6.950.000 đồng, gồm: thu giữ trên bàn ghế đá tại vị trí Lê Thị C ngồi số tiền 2.570.000 đồng, thu giữ trong người của Lê Thị C số tiền 4.380.000 đồng;

Thu giữ trong phòng ngủ nhà Lê Thị C:

  • 02 phơ đề ghi trên giấy vở học sinh đề ngày 05/3/2023;
  • 01 phơ đề ghi trên giấy vở học sinh đề ngày 04/3/2023;
  • Tiền Ngân hàng N: 13.250.000 đồng (để chung với các tờ phơ đề).

Quá trình điều tra xác định: Cách thời điểm bị bắt quả tang khoảng 02 tháng, Lê Thị C đã bắt đầu ghi bán số lô đề cho nhiều người tại nhà ở thôn K, xã T. Ai muốn mua số lô đề thì trực tiếp đến nhà C sẽ được C ghi con số cần mua vào 01 tờ giấy nhỏ giao cho họ để làm cơ sở chung chi nếu thắng, hoặc sẽ nhắn tin qua các số điện thoại 0763.602.xxx, 0866713872 của C và sẽ được Chi trả lời “Ok” để chấp nhận. Sau đó, C tổng hợp tất cả số lô đề ghi bán trong ngày vào một tờ phơ để giao lại cho một người phụ nữ tên Gái M để hưởng hoa hồng với số tiền 50.000 đồng/1.000.000đồng tiền bán số lô để thực thu được. Trong ngày nếu có người trúng, bà M sẽ giao tiền cho C trực tiếp chi trả cho họ. Năm tờ phơ do Cơ quan điều tra thu giữ được khi bắt quả tang là do C trực tiếp ghi để bán số lô đề cho nhiều người trong các ngày 04, 05, 06/3/2023.

Cách thức mua bán số lô đề được Lê Thị C quy định như sau:

Đối với đài Miền Nam và M: Các số ghi đầu đuôi và các số bao lô thì tỉ lệ ăn là 1.000đồng ăn 60.000đồng; Số đá 01 cặp và ba chân thì 1.000đồng ăn 500.000đồng; đá chéo 1.000đồng ăn 400.000đồng. Khi bán khuyến mãi cho người mua như sau: Mua một đầu thì khuyến mãi nửa tiền đuôi, mua bao lô thì chỉ tính tiền 12 lô, mua số đá cặp 1.000đồng thì bán 24.000đồng, mua số đá chéo số 1.000đồng thì bán 48.000đồng.

Cơ quan điều tra đã cho Lê Thị C diễn giải nội dung các phơ đề ngày 04/3/2023, 05/3/2023, 06/3/2023, kết quả như sau:

- Đài B (đài chính) ngày 04/3/2023:

+ Tổng số tiền bán số lô đề mà Lê Thị C ghi trên phơ là 9.140.000 đồng.

+ Tổng số tiền thực thu là 5.940.000 đồng.

Trong ngày 04/3/2023, có 02 người chơi trúng số 25 bao lô với số tiền ghi mỗi người là 25.000 đồng và 01 người chơi trúng số 25 bao lô với số tiền ghi là 200.000 đồng. Tổng số tiền trúng là (25.000 đồng + 25.000 đồng + 200.000 đồng) x 60 = 15.000.000đồng. Nên tổng số tiền mà Lê Thị C đã dùng để đánh bạc trong lô đề ngày 04/3/2023 đài B2 là: 9.140.000 đồng + 15.000.000 đồng = 24.140.000 đồng.

- Đài thành phố H (đài phụ) ngày 04/3/2023:

+ Tổng số tiền bán số lô đề mà Lê Thị C ghi trên phơ là 9.697.500 đồng.

+ Tổng số tiền thực thu là 6.135.000 đồng.

Trong ngày 04/3/2023, có người chơi trúng số 93 bao lô với số tiền ghi là 50.000 đồng, số tiền trúng là 50.000 đồng x 60 = 3.000.000 đồng. Nên tổng số tiền mà Lê Thị C đã dùng để đánh bạc trong lô đề ngày 04/3/2023 đài thành phố H là: 9.697.500 đồng + 3.000.000 đồng = 12.697.500 đồng.

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của Lê Thị C ở các đài Miền Nam trong ngày 04/3/2023 là: 24.140.000 đồng + 12.697.500 đồng = 36.837.500 (Ba mươi sáu triệu tám trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm) đồng. Trong đó, số tiền thực thu là: 5.940.000 đồng + 6.135.000 đồng = 12.075.000 đồng, nên số tiền C được hưởng lợi trong lô đề ngày 04/3/2023 đối với các đài Miền Nam là 600.000 đồng.

- Đài L (đài chính) ngày 05/3/2023:

+ Tổng số tiền bán số lô đề mà Lê Thị C ghi trên phơ là 17.172.500 đồng.

+ Tổng số tiền thực thu là 10.475.000 đồng.

Trong ngày 05/3/2023, có 01 người chơi trúng số 61 bao lô với số tiền ghi là 100.000đồng, 01 người chơi trúng số 21 bao lô với số tiền ghi là 50.000 đồng. Tổng số tiền trúng là: (100.000đồng + 50.000đồng) x 60 = 9.000.000 đồng. Nên tổng số tiền mà Lê Thị C đã dùng để đánh bạc trong lô đề ngày 05/3/2023 đài L là: 17.172.500 đồng + 9.000.000 đồng = 26.172.500 đồng.

- Đài T (đài phụ) ngày 05/3/2023:

+ Tổng số tiền bán số lô đề mà Lê Thị C ghi trên phơ là 15.002.500 đồng.

+ Tổng số tiền thực thu là 9.220.000 đồng.

Trong ngày 05/3/2023, không có người trúng, nên tổng số tiền mà Lê Thị C đã dùng để đánh bạc trong lô đề ngày 05/3/2023 đài T là: 15.002.500 đồng.

- Đài K (đài đi đường) ngày 05/3/2023:

+ Tổng số tiền bán số lô đề mà Lê Thị C ghi trên phơ là 4.095.000 đồng.

+ Tổng số tiền thực thu là 2.680.000 đồng.

Trong ngày 05/3/2023, có 02 người chơi trúng số 66 đầu với số tiền ghi mỗi người là 50.000 đồng, có 02 người chơi trúng số 66 bao lô với số tiền ghi mỗi người là 25.000 đồng, có 01 người trúng số 61 bao lô với số tiền ghi là 100.000 đồng. Tổng số tiền trúng là: (50.000 đồng +50.000 đồng + 25.000 đồng + 25.000 đồng + 100.000 đồng) x 60 = 15.000.000 đồng. Nên tổng số tiền mà Lê Thị C đã dùng để đánh bạc trong lô đề ngày 05/3/2023 đài L là: 4.095.000 đồng + 15.000.000 đồng = 19.095.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của Lê Thị C ở các đài Miền Nam trong ngày 05/3/2023 là: 26.172.500 đồng + 15.002.500 đồng + 19.095.000 đồng = 60.270.000 (Sáu mươi triệu hai trăm bảy mươi nghìn) đồng. Trong đó, số tiền thực thu là: 10.475.000 đồng +9.220.000 đồng + 2.680.000 đồng = 22.375.000 đồng, nên số tiền C được hưởng lợi trong lô đề ngày 05/3/2023 đối với các đài Miền Nam là 1.100.000 đồng.

- Đài Đ (đài chính) ngày 06/3/2023:

+ Tổng số tiền bán số lô đề mà Lê Thị C ghi trên phơ là 5.327.500 đồng.

+ Tổng số tiền thực thu là 3.385.000 đồng.

Lê Thị C bị bắt quả tang trước khi có kết quả xổ số, nên số tiền mà C đã dùng để đánh bạc trong lô đề ngày 06/3/2023 đài Đ1 là: 5.327.500 đồng.

- Đài thành phố H (đài phụ) ngày 06/3/2023:

+ Tổng số tiền bán số lô đề mà Lê Thị C ghi trên phơ là 8.912.000 đồng.

+ Tổng số tiền thực thu là 5.760.000 đồng.

Lê Thị C bị bắt quả tang trước khi có kết quả xổ số, nên số tiền mà C đã dùng để đánh bạc trong lô đề ngày 06/3/2023 đài thành phố H là: 8.912.000 đồng.

- Đài C (đài đi đường) ngày 06/3/2023:

+ Tổng số tiền bán số lô đề mà Lê Thị C ghi trên phơ là 360.000 đồng.

+ Tổng số tiền thực thu là 240.000 đồng.

Lê Thị C bị bắt quả tang trước khi có kết quả xổ số, nên số tiền mà C đã dùng để đánh bạc trong lần lô đề ngày 06/3/2023 đài C5 là: 360.000 đồng.

Ngoài ra, trong ngày 06/3/2023, Lê Thị C còn bán số lô đề cho Nguyễn Thị V (sinh năm 1985, trú thôn K, xã T, huyện H) thông qua tin nhắn điện thoại, C đã thu tiền nhưng chưa ghi vào phơ đề các số: đầu đài Đ 78 số tiền 70.000đồng, 73 số tiền 30.000đồng, 12 số tiền 15.000đồng, 30, 92, 80 mỗi số 10.000đồng; đầu đài thành phố Hồ Chí Minh 73 số tiền 30.000đồng, 12 số tiền 15.000đồng, 30, 92, 80 mỗi số 10.000 đồng; đuôi đài thành phố Hồ Chí Minh 78 số tiền 30.000 đồng. Số tiền trên phơ là 375.000 đồng, số tiền thực thu của V là 250.000 đồng. Số tiền đánh bạc của V là 375.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của Lê Thị C ở các đài Miền Nam trong ngày 06/3/2023 là: 5.327.500 đồng + 8.912.000 đồng + 360.000 đồng + 375.000 đồng = 14.974.500 đồng. Trong đó, số tiền thực thu là: 3.385.000 đồng + 5.760.000 đồng + 240.000 đồng + 250.000 đồng = 9.635.000 đồng. Do Lê Thị C3 bị bắt quả tang trước khi có kết quả xổ số, nên chưa được chi trả hoa hồng.

Trong ngày 06/3/2023, Lê Thị C bán số lô đề cho Phan Công Đ (sinh năm 1984), Nguyễn Văn P (sinh năm 1993), Nguyễn Văn S (sinh năm 1965) cùng trú thôn K, xã T thông qua tin nhắn điện thoại, đã được C ghi vào phơ đề và thu tiền với số tiền ghi trên phơ (tiền đánh bạc) của từng người lần lượt là: 1.000.000 đồng, 150.000 đồng, 1.600.000 đồng.

Đối với Phạm Thị B1, Nguyễn Thị V, Phan Công Đ, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S số tiền dùng để đánh bạc trong lô đề ngày 06/3/2023 ở các đài Miền Nam dưới 5.000.000 đồng; các đối tượng Phạm Thị B1, Nguyễn Thị V, Phan Công Đ, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S cũng chưa bị xử lý hành chính cũng như chưa bị kết án về hành vi “đánh bạc” hay “tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” được quy định tại Điều 321, 322 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi đánh bạc lần này của 05 người này chưa đủ yếu tố để cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy, việc Công an huyện H ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Phạm Thị B1, Nguyễn Thị V, Phan Công Đ, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S về hành vi đánh bạc dưới hình thức lô đề là có căn cứ nên không đề cập xử lý tiếp theo.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 165/2023/HS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị C phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thị C 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định áp dụng biện pháp tư pháp, án phí theo quy định pháp luật.

Ngày 27/12/2023, bị cáo Lê Thị C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị cáo Lê Thị C giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm về vệc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Thị C về tội “Đánh bạc” và phạt bị cáo mức án 01 năm tù là có căn cứ. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Vào các ngày 04, 05, 06 tháng 3 năm 2023, bị cáo Lê Thị C đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết hàng ngày cho nhiều người khác tại nhà của bị cáo Lê Thị C tại thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận và bị bắt quả tang vào lúc 15 giờ 40 phút ngày 06/3/2023. Trong lần đánh bạc dưới hình thức lô đề trên cơ sở kết quả mở thưởng của các đài M (kết quả xổ số ở một số tỉnh phía Nam) vào các ngày 04, 05, 06 tháng 3 năm 2023, số tiền bị cáo Lê Thị Chi d để đánh bạc lần lượt là 36.837.500đồng, 60.270.000đồng, 14.974.500đồng. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam xét xử bị cáo Lê Thị C phạm tội “Đánh bạc” với tình tiết định khung “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thị C xin giảm nhẹ hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm; Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình có công với cách mạng. Bị cáo 03 lần thực hiện hành vi phạm tội, mỗi lần số tiền trên 5.000.000đồng nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có cơ sở. Trên cơ sở các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự (khung hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù) với mức hình phạt 01 năm tù là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới. Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 165/2023/HS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam.

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Lê Thị C phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị C 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.

2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Thị C phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 20/5/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh;
  • - VKSND H.Hàm Thuận Nam;
  • - TAND H. Hàm Thuận Nam;
  • - CQCSĐT Công an H. Hàm Thuận Nam;
  • - Chi cục THADS H. Hàm Thuận Nam;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 38/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger