Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LAI VUNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:38/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20-5-2024

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Hoa Lư.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phát Triển.

Ông Nguyễn Chí Công

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Phát Đạt là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Dang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21/02/204 “V/v Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 21/4/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Thái Hoàng S, sinh năm: 1968. Địa chỉ: H, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiêng Giang. (có mặt)

2. Bị đơn: Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1967. Địa chỉ: C, ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 24/11/2023, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn T1 trình bày:

* Về hôn nhân:

Anh S và chị Đ do mai mối đi đến hôn nhân về sống chung năm 1984, hôn nhân không có đăng ký kết hôn. Sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2017 thì vợ chồng phát sinh nhiều mẫu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng có quá nhiều bất đồng quan điểm sống, diễn ra cự cải thường xuyên, cuộc sống gia đình ngày càng căng thẳng, mâu thuẫn không thể hàn gắn nên anh S đã về Kiên Giang sống từ năm 2017 cho đến nay. Từ lúc xa nhau đến nay nạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai. Nay anh S nhận thấy không còn tình cảm với chị Đ nên khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với chị Đ.

Về con chung: Trong thời gian sống chung anh S và chị Đ có 03 con chung tên Thái Thị Kim N, sinh ngày 01/01/1986, Thái Vân Đ1, sinh ngày 06/3/1988, Thái Hoàng A, sinh ngày 09/9/1996. Hiện các con đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Anh S không yêu cầu giải quyết.

Về nợ khi ly hôn: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn Nguyễn Thị Đ: Đã đượccTòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Tòa án nhưng chị Đ vẫn cố tình vắng mặt lần 2 tại phiên tòa không có ly do và không có ý kiến phản bác yêu cầu của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung phát biểu: Đối với vụ án từ giai đoạn thụ lý cho đến giai đoạn xét xử, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự tuy nhiên bị đơn Nguyễn Thị Đ còn chưa chấp hành đúng theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về đường lối giải quyết vụ án Kiểm sát viên căn cứ Điều 11, 91 Luật hôn nhân gia đình năm 2000; Tiểu mục a, mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về thi hành luật hôn nhân gia đình năm 2000 đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Cho anh Thái Hoàng S được ly hôn với chị Nguyễn Thị Đ; Về con chung và cấp dưỡng không yêu cầu giải quyết; Về tài sản và nợ, không yêu cầu giải quyết; Về án phí: giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Thái Hoàng S có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa Thái Hoàng S và Nguyễn Thị Đ, đây là vụ án “Ly hôn”; thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Nguyễn Thị Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp và phiên tòa không có lý do. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Thái Hoàng S và Nguyễn Thị Đ, sống chung như vợ chồng vào năm 1984, không có đăng ký kết hôn, tuy nhiên theo tiểu mục a mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 quy định, trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 mà chưa có đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Tòa án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Trong vụ án này anh S và chị Đ không có đăng ký kết hôn và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1984, trước ngày 03/01/1987 nên khi anh S yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án áp dụng Điều 11, Điều 91 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 để xem xét giải quyết và công nhận đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng có quá nhiều bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân ngày càng rạn nứt, không có tiếng nói chung vì thế mà anh S và chị Đ xa nhau từ năm 2017 cho đến nay. Từ ngày xa nhau đến nay cả hai không có liên lạc và hàn gắn được với nhau, không ai quan tâm ai. Xét thấy tình cảm giữa anh S và chị Đ không thể hàn gắn, hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Mặc dù, Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng anh S vẫn cương quyết ly hôn với chị Đ. Đối với chị Đ từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa chị Đ vẫn vắng mặt, hơn nữa khi Tòa án xác minh thì con trai sống chung với chị Đ là anh T Hoàng A cho biết là việc anh S yêu cầu xin ly hôn là anh Hoàng A có thông báo cho chị Đ biết nhưng chị Đ vẫn không có ý kiến phản bác gì đối với yêu cầu của anh S. Điều đó cho thấy chị Đ đã từ bỏ cuộc hôn nhân này với anh S, không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của anh S và chị Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, cho nên việc anh S yêu cầu ly hôn là thỏa mãn các điều kiện theo Điều 89, 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh S là có căn cứ.

[3] Về con chung: Trong thời gian sống chung anh S và chị Đ 03 con chung tên Thái Thị Kim N, sinh ngày 01/01/1986, Thái Vân Đ1, sinh ngày 06/3/1988, Thái Hoàng A, sinh ngày 09/9/1996. Hiện các con đã trưởng thành anh S không yêu cầu giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ khi ly hôn: Anh S không yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Còn đối với chị Đ từ khi thụ lý vụ án đến nay mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định trong đó có việc thông báo cho chị Đ biết việc tình trạng tài sản chung và nợ khi ly hôn nhưng chị Đ cũng không có ý kiến hay phản bác yêu cầu của anh Đào về vấn đề tài sản chung và nợ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Nguyên đơn Thái Hoàng S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[6] Về phát biểu của Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có cơ sở nên thống nhất với ý kiến của Viện kiểm sát

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 11, 89, 91 của Luật hôn nhân và gia đình 2000; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Thái Hoàng S về việc xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Đ

  1. Về hôn nhân: cho Thái Hoàng S được ly hôn với Nguyễn Thị Đ.
  2. Về con chung: Có 03 con chung tên Thái Thị Kim N, sinh ngày 01/01/1986, Thái Vân Đ1, sinh ngày 06/3/1988, Thái Hoàng A, sinh ngày 09/9/1996. Hiện các con đã trưởng thành anh S không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung khi ly hôn: Không yêu cầu giải quyết.
  4. Về án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Thái Hoàng S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng. Được khấu trừ 300.000 đồng mà Thái Hoàng S đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0001412, ngày 19/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (Thái Hoàng S đã nộp xong).

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/5/2024). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐT;
  • - VKSND huyện LV;
  • - CCTHADS huyện LV;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Hoa Lư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger