Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày: 20-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thanh Vân.

2/ Bà Âu Thị Kiều Sương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kinh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Cao Duyệt Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Thị Minh T

sinh năm: 2002, tại tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Bùi Văn V và bà Nguyễn Tố M; Bị cáo chưa có chồng và con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/02/2024 đến ngày 04/02/2024 chuyển tạm giam cho đến nay.

- Bị hại:

Nguyễn Thị Huỳnh N

sinh ngày 16/01/2006 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Lê Hoàng V1

sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố D, Thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Nguyễn Thị Huỳnh N thuê phòng trọ số 60D nhà trọ Phương Tường ở ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre để ở cùng Bùi Thị Minh T. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/11/2023, sau khi đi ăn trở về phòng, chị N lấy điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh để trên nệm sạc pin rồi nằm ngủ. Thấy chị N ngủ say, T nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại bán lấy tiền tiêu xài. Thư đến lấy điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax bỏ vào túi áo rồi bắt xe đến của hàng Hoàng V1 của anh Lê Hoàng V1, sinh năm 1986 ở khu phố D, thị trấn C, tỉnh Bến Tre bán điện thoại với giá 3.000.000 đồng rồi bỏ trốn. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, chị N thức dậy, phát hiện điện thoại bị mất, T cũng không có trong phòng nên N mượn điện thoại để liên lạc với T thì T thừa nhận đã lấy điện thoại và đem bán nên chị N trình báo Công an xã Q.

Vật chứng tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh; 01 đĩa DVD ghi lại cảnh Thư bán điện thoại.

Tại bản kết luận định giá số: 2070/KL-HDĐG ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện C, tỉnh Bến Tre, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh tại thời điểm bị mất có giá là 10.000.000 đồng.

Cáo trạng số: 39/CT-VKSCT ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Bùi Thị Minh T về “Tội trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Minh T phạm “Tội trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi Thị Minh Thư t 06 tháng đến 12 tháng tù.

Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại Nguyễn Thị Huỳnh N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Buộc bị cáo Bùi Thị Minh T bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho anh Lê Hoàng V1.

Xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Huỳnh N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh.

Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi lại cảnh bị cáo T bán điện thoại cho anh Lê Hoàng V1.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

    Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra, việc vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  2. [2] Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị hại về vị trí, thời gian và đặc điểm tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/11/2023, tại phòng trọ số 60D nhà trọ Phương Tường ở ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre Bùi Thị Minh T đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh của chị Nguyễn Thị Huỳnh N trị giá 10.000.000 đồng đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
  3. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý, trông coi tài sản, bị cáo đã tiếp cận, lén lút lấy trộm tài sản của bị hại với giá trị tài sản là 10.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Bùi Thị Minh T phạm “Tội trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
  4. [4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  5. [5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, bản tính xem thường pháp luật của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  6. [6] Trách nhiệm dân sự:

    Ghi nhận chị Nguyễn Thị Huỳnh N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan anh Lê Hoàng V1 yêu cầu bị cáo Bùi Thị Minh T bồi thường số tiền 3.000.000 đồng mà anh V1 đã bỏ ra để mua điện thoại của bị cáo T. Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý bồi thường số tiền 3.000.000 đồng theo yêu cầu của anh V1. Xét thấy, yêu cầu của anh V1 là phù hợp và bị cáo T cũng tự nguyện đồng ý bồi thường cho anh V1. Do đó, buộc bị cáo Bùi Thị Minh T có trách nhiệm bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho anh Lê Hoàng V1.

  7. [7] Xử lý vật chứng:

    - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh là tài sản của bị hại. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị hại là phù hợp nên ghi nhận.

    - Đối với 01 đĩa DVD đã ghi lại cảnh bị cáo T bán điện thoại cho anh Lê Hoàng V1 nên lưu vào hồ sơ vụ án.

  8. [8] Đối với hành vi mua điện thoại do Bùi Thị Minh T bán của Lê Hoàng V1, do anh V1 ngay tình không biết điện thoại Thư bán do trộm cắp mà có nên hành vi của anh V1 không phạm tội.
  9. [9] Về án phí:

    Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí là 200.000 đồng.

    Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo chịu trách nhiệm dân sư nên phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Minh T phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

  1. [1] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Bùi Thị Minh T 08 (T1) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2024.

  2. [2] Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 591 khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015:

    Trách nhiệm dân sự:

    Ghi nhận chị Nguyễn Thị Huỳnh N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

    Buộc bị cáo Bùi Thị Minh T bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho anh Lê Hoàng V1.

    Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong.

  3. [3] Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    Xử lý vật chứng:

    - Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Huỳnh N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh.

    - Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi lại cảnh bị cáo T bán điện thoại cho anh Lê Hoàng V1.

  4. [4] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Án phí:

    - Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Thị Minh T phải nộp án phí là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

    - Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Thị Minh T phải nộp án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND T. Bến Tre;
  • - VKSND T. Bến Tre;
  • - Cơ quan THAHS Công an T. Bến Tre;
  • - Sở Tư pháp T. Bến Tre;
  • - VKSND H. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H. Châu Thành;
  • - Công an H. Châu Thành;
  • - Bộ phận HS Công an H. Châu Thành;
  • - UBND xã Vĩnh Hòa Hưng Nam;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký tên và đóng dấu)

Trần Thị Ngọc Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử 08 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger