|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2024/HS-ST
Ngày: 17 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hoa Kiều.
- Bà Lê Thị Ngọc Ánh.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thành Khánh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Ngô Xuân D, sinh năm 1986, tại tỉnh Bến Tre; Căn cước công dân: [...]; Tên gọi khác: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Ấp B, T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô H, sinh năm 1951và bà Đỗ Thị K, sinh năm 1959; Bị cáo có 03 anh chị em ruột; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Diễm T và 01 con Ngô Xuân V, sinh năm 2018; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo tại ngoại.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
*Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1970 (chết);
Người đại diện hợp pháp bị hại:
- - Nguyễn Thế S, sinh năm 1968; (có mặt)
- Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- - Nguyễn Thế T2, sinh năm 1992; (có mặt)
- Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Nguyễn Thị G, sinh năm 1977; Địa chỉ: ấp P, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. (xin vắng mặt)
- - Lê Linh C, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp B, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ 15 phút ngày 29/11/2023, tài xế Ngô Xuân D, điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu FOTON, biển số 63H-030.12 lưu thông trên tuyến Quốc lộ E, hướng từ thành phố M đi huyện G, tỉnh Tiền Giang. Khi đến đoạn thuộc ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì đụng vào phía sau xe mô tô hai bánh, biển số 51Z4-4279 do chị Nguyễn Thị Thanh T1 điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Ngay sau va chạm, xe mô tô biển số 51Z4-4279 tiếp tục va chạm với xe mô tô hai bánh, biển số 71K8-3819 do chị Nguyễn Thị G đang lưu thông cùng chiều phía trước. Hậu quả, chị T1 tử vong tại hiện trường, chị G bị thương tích nhẹ.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và giám định tử thi xác định như sau: Xác định hiện trường là đường Quốc lộ 50 chạy dài theo hướng Đ (hướng từ G đi M), mặt đường được rải nhựa bằng phẳng, rộng 11 mét. Đường có hai chiều cho xe lưu thông, giữa tim đường có vạch kẻ phân cách màu vàng đứt khúc. Mỗi chiều đường có hai làn đường cho xe lưu thông, giữa hai làn đường được phân cách bằng vạch kẻ màu trắng đứt khúc, làn đường bên trái rộng 3,5 mét, làn đường bên phải rộng 2,0 mét. Đoạn xảy ra tai nạn nằm trên Quốc lộ E đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, có hệ thống đèn đường thắp sáng vào ban đêm. Trước đoạn xảy ra tai nạn trên tuyến Quốc lộ E của hướng di chuyển từ M đi G ghi nhận có các biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, biển báo đường người đi bộ sang ngang, biển báo chỗ ngoặc nguy hiểm và biển báo trẻ em qua đường. Chọn lề đường hướng Nam theo chiều các phương tiện lưu thông làm lề chuẩn (cùng chiều di chuyển của xe mô tô biển số 51Z4-4279 và xe ô tô tải biển số 63H-030.12). Quá trình khám nghiệm căn cứ vào các dấu vết có ở hiện trường, vị trí các phương tiện liên quan, vị trí nạn nhân và các dấu vết trên phương tiện xác định vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô tải biển số 63H-030.12 và xe mô tô 51Z4-4279 đo vuông góc đến lề chuẩn là 1,2 mét; vị trí va chạm thứ hai giữa xe mô tô 51Z4-4279 và xe mô tô 71K8-3819 đo vuông góc đến lề chuẩn là 0,4 mét.
- Theo bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 389 ngày 29/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận nguyên nhân tử vong của tử thi Nguyễn Thị Thanh T1: “Mất máu cấp do đứt động mạch gian sườn 6, 7 bên trái, đứt động mạch thận trái, vỡ gan, vỡ lách, vỡ thận trái, rách bao tim, gãy xương ức và xương sườn”. Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu là 9.5 mmol/l.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện C, Ngô Xuân D khai nhận: Vào khoảng 04 giờ 15 phút ngày 29/11/2023, D điều khiển ô tô tải, nhãn hiệu FOTON, biển số 63H-030.12 lưu thông trên tuyến Quốc lộ E, hướng từ thành phố M đi huyện G, tỉnh Tiền Giang. Khi đến đoạn đường thuộc ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì ngủ gật dẫn đến không quan sát khi điều khiển xe ô tô, không giữ khoảng cách an toàn với các phương tiện lưu thông cùng chiều phía trước gây tai nạn.
Căn cứ kết quả xét nghiệm nồng độ cồn được lập ngày 29/11/2023 đối với Ngô Xuân D thể hiện nồng độ cồn trong máu là 0,8 mmol/l (<= 5,4 trị số bình thường). Tuy qua xét nghiệm, nồng độ cồn trong máu của Ngô Xuân D là 0,8 mmol/l nhưng D trình bày không có sử dụng rượu, bia vào thời điểm trước và ngay khi điều khiển xe gây ra tai nạn. Đồng thời căn cứ vào Công văn số 353/TTYTCG-KHTH ngày 16/4/2024 của Trung tâm Y tế huyện C giải thích: "Với kết quả nồng độ cồn 0.8 mmol/l thì Ngô Xuân D không có sử dụng rượu bia; một số thức ăn và thuốc có thể làm tăng nồng độ cồn như Nho, vải, dứa, thức ăn chứa tinh bột, sô cô la, cà phê.... thuốc ho, cảm cúm, dung dịch sát trùng họng miệng”.
Từ những dấu vết để lại tại hiện trường, trên phương tiện giao thông và kết quả điều tra xác định: Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông trên do lỗi của Ngô Xuân D điều khiển xe ô tô không quan sát dẫn đến không đảm bảo khoảng cách an toàn đối với các phương tiện lưu thông cùng chiều phía trước gây tai nạn làm cho chị Nguyễn Thị Thanh T1 tử vong.
* Vật chứng trong vụ án:
- + 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu Foton, số loại Ollin-S700, màu trắng. biển số 63H-030.12 là phương tiện bị cáo điều khiển gây tai nạn. Kết quả điều tra xác định xe ô tô do anh Lê Linh C đứng tên chủ sở hữu. Anh L thuê Ngô Xuân D làm tài xế để chở hàng hóa được khoảng 01 năm. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe ô tô trên cho anh Lê Linh C.
- + 01 (một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda, kiểu dáng City, màu đỏ biển số 51Z4-4279 là phương tiện do bị hại điều khiển. Kết quả điều tra xác định xe mô tô do chị Phạm Thị Ngọc L1, sinh năm 1978, địa chỉ 3 N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Xác minh tại địa chỉ không có người tên Phạm Thị Ngọc L1 cư trú. Qua làm việc với ông Nguyễn Thế S, sinh năm 1968 (là chồng của bị hại trình bày nguồn gốc xe mô tô biển số 51Z4-4279 do bà Nguyễn Thị Thanh T1 mua vào năm 2022 tại một cửa hàng xe cũ không rõ địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông Nguyễn Thế S.
- + 01 (một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Wait, số loại C100, màu nâu, biển số 71K8-3819 là phương tiện do Nguyễn Thị G điều khiển: Qua xác minh nguồn gốc phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xác định xe mô tô do anh Tống Tùng C1, sinh năm 1981, địa chỉ ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre đứng tên chủ sở hữu; xác minh tại địa phương anh C1 đã chết vào năm 2017, tại địa phương không ghi nhận vụ việc liên quan đến xe mô tô biển số 71K8-3819. Chị Nguyễn Thị G trình bày mua xe mô tô trên vào năm 2014 để làm phương tiện đi lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho chị Nguyễn Thị G.
* Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền 220.000.000 đồng bao gồm chi phí mai táng, thiệt hại về tài sản, bồi thường tổn thất tinh thần. Bị cáo đã bồi thường xong. Trước thời điểm phiên tòa xét xử (ngày 15/7/2024), phía bị hại có yêu cầu bị cáo bồi thường chiếc xe do hư hỏng nặng không sử dụng được số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo cũng đã bồi thường xong.
Người liên quan Nguyễn Thị G yêu cầu bồi thường 10.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội.
* Người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại:
- - Ông Nguyễn Thế S và anh Nguyễn Thế T2 có lời khai: Ông S và anh T2 là chồng và con ruột của bị hại trong vụ tai nạn giao thông tại ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Phía bị cáo D có đến thắp nhang và bồi thường số 220.000.000 đồng. Biết gia đình bị cáo D khó khăn là lao động chính trong gia đình nên ông S và anh T2 xin bãi nại và không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo D. Ngày 15/7/2024, bị cáo có bồi thường thêm 5.000.000 đồng thiệt hại chiếc xe do bị hại điều khiển nên ông S và anh T2 không yêu cầu gì thêm.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị G trình bày: Khoảng 04 giờ 15 phút ngày 29/11/2023 chị bị xe ô tô tải từ sau đụng tới gây thương tích, sau đó được đưa đi bệnh viện Q, kiểm tra sức khỏe và được cho xuất viện cùng ngày. Trước đây chị đã được bị cáo D bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, chị không yêu cầu bồi thường thêm, xin từ chối giám định thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự bị cáo, xin được vắng mặt không tham dự tòa.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Linh C trình bày: Xe ô tô tải mà bị cáo D điều khiển là của anh mua năm 2022. Anh có thế chấp Ngân hàng và được cấp bản sao thực. Anh có thuê bị cáo D điều khiển xe ô tô tải. Ngày 28/11/2023, anh có giao xe cho bị cáo đi từ B Nhứt xuống thị xã G lấy hàng và chạy xuống chợ S1 giao hàng. Trên đường về tới Quốc lộ E ấp Đ, L thì do bị cáo ngủ gục dẫn đến gây tai nạn. Anh đã động viên bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại. Anh đã nhận lại xe và xe có bị hư hỏng phía trước đầu xe nhưng anh không yêu cầu bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSCG ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo đã truy tố bị cáo Ngô Xuân D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Bị cáo thừa nhận do ngủ quên khi điều khiển xe, không giữ khoảng cách an toàn theo quy định dẫn đến tai nạn, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
- - Ông S và anh T2 xác định đã nhận của bị cáo tổng cộng 225.000.000 đồng gồm tiền mai táng phí, tổn thất tinh thần và bồi thường chiếc xe. Hiện gia đình không yêu cầu bồi thường thêm và cũng xin giảm nhẹ cho bị cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Xuân D mức án từ 01 năm từ đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu thêm nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét.
- Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên không xem xét.
- - Bị cáo có lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn về hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo vì gia đình bị cáo thật sự khó khăn, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình đang nuôi con còn nhỏ đang sống với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, người có quyền lợi liên quan chị G và anh C có đơn xin vắng mặt. Xét thấy chị G và anh C có bản tự khai và lời khai trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt không ảnh hưởng việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh C và chị G.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 33/CT-VKSCG ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại; phù hợp với kết luận điều tra, kết luận giám định pháp y về tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, các dấu vết để lại hiện trường, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ 15 phút ngày 29/11/2023, Ngô Xuân D có giấy phép lái xe hạng C theo quy định, không có sử dụng rượu bia, điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu FOTON, biển số 63H-030.12 lưu thông trên tuyến Quốc lộ E, hướng từ thành phố M đi huyện G, tỉnh Tiền Giang. Khi đến đoạn thuộc ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì đụng vào phía sau xe mô tô hai bánh, biển số 51Z4-4279 do chị Nguyễn Thị Thanh T1 điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Ngay sau va chạm, xe mô tô biển số 51Z4-4279 tiếp tục va chạm với xe mô tô hai bánh, biển số 71K8-3819 do chị Nguyễn Thị G đang lưu thông cùng chiều phía trước. Hậu quả, chị T1 tử vong tại hiện trường, chị G bị thương tích nhẹ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Do bị cáo tham gia giao thông không quan sát dẫn đến không đảm bảo khoảng cách an toàn đối với các phương tiện lưu thông cùng chiều phía trước gây tai nạn, bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người bị hại và các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông. Bị cáo là người đã thành niên, khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông trên đường bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc tham gia giao không chú ý quan sát dẫn đến không giữ khoảng cách an toàn với người điều khiển giao thông cùng chiều phía trước là vi phạm pháp luật, sẽ nguy hiểm cho bản thân và người khác, hậu quả dẫn đến xảy ra tai nạn làm người bị hại tử vong tại chổ.
Do đó xét thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được xem xét các tình tiết giảm nhẹ như trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường khắc phục thiệt hại cho gia đình người bị hại, trong thời hạn chuẩn bị xét xử bị cáo bồi thường thêm cho bị hại 5.000.000 đồng; người đại diện hợp pháp của người bị hại cũng có đơn xin bãi nại giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Đồng thời tại phiên tòa bị cáo cung cấp các tài liệu thể hiện bị cáo là cháu nội của liệt sĩ Ngô Văn T3, cháu nội của Mẹ Việt Nam anh hùng Huỳnh Thị L2, ông Ngô Văn T3 và bà Huỳnh Thị L2 được Nhà nước tặng Huân chương độc lập hạng 3, là con của ông Ngô H là người được hưởng chính sách như thương binh và cháu của các liệt sĩ Ngô Văn B, Ngô Văn K1. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Với tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình để tuyên xử mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo có nộp đơn xác nhận của địa phương thể hiện bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này, bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có con nhỏ đang sống cùng bị báo. Do đó, Hội đồng xét xử xét không cần thiết phải cách ly bị cáo D khỏi đời sống chung với xã hội mà xử phạt tù cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo đã bồi thường 220.000.000 đồng cho gia đình chị T1 và 10.000.000 đồng cho chị G. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo có bồi thường thêm cho gia đình chị T1 5.000.000 đồng. Ông S, anh T2 và chị G không yêu cầu bồi thường gì thêm, có đơn xin bãi nại cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh C không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng vụ án: Theo Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự:
- - Cơ quan điều tra đã trả lại: 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu Foton, số loại Ollin-S700, màu trắng. biển số 63H-030.12 anh Lê Linh C, 01 (một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda, kiểu dáng City, màu đỏ biển số 51Z4-4279 cho gia đình bị hại và 01 (một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Wait, số loại C100, màu nâu, biển số 71K8-3819 cho chị Nguyễn Thị G là đúng quy định pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
[9] Xét phân tích và đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Xuân D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo
- Xử phạt bị cáo Ngô Xuân D 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/7/2024).
Giao bị cáo Ngô Xuân D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo Ngô Xuân D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự
Bị cáo D, đại diện hợp pháp bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Xuan D phạm tội Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
