Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HNGĐ - ST

Ngày 17 - 6 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Nguyễn Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 219/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1994

    Nơi cư trú: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh T là bà Vũ Thúy H – Luật sư Công ty L1 – Đoàn luật sư thành phố H

  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1995

    Nơi cư trú: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Tại phiên tòa có mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh T và chị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phan Văn T trình bày:

Về hôn nhân: anh và chị L kết hôn ngày 25/7/2014 có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn T, xã H, cuộc sống hôn nhân diễn ra bình thường. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, mặc dù gia đình hai bên khuyên bảo hàn gắn nhưng không có kết quả. Nhận thấy cuộc hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn chị L.

Về con chung: Anh và chị L có 02 con chung là Phan Nguyễn Tùng A, sinh ngày 14/6/2014 và Phan Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/5/2022 khi ly hôn anh trình bày anh và chị L thỏa thuận các con sẽ ở với chị L, về cấp dưỡng tạm thời anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tại đơn trình bày ý kiến ngày 31/5/2024 anh T trình bày hiện nay anh đang làm nhân viên bếp cho hộ kinh doanh trò chơi điện tử có địa chỉ tại số E C- Hà Nội với mức lương 6.800.000 đồng, hiện tại anh chỉ có khả năng đóng góp mức 2.000.000 đồng/ tháng cho cả hai con, do khó khăn nên anh đề nghị Tòa án ghi nhận và tạm hoãn việc thực hiện cấp dưỡng đối với 02 con cho anh cho đến khi có khả năng tài chính anh sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với các con.

Về tài sản chung: anh và chị L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 29/3/2024 và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh T kết hôn năm 2014 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T vào ngày 25/7/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc, cho đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T quan hệ bất chính với người khác, vợ chồng ly thân từ năm 2022, anh T đã chung sống với người khác từ năm 2020. Nay chị xét thấy tình cảm không còn nên đồng ý ly hôn anh T.

Về con chung: trong thời gian chung sống chị và anh T có hai con chung là Phan Nguyễn Tùng A, sinh ngày 14/6/2014 và Phan Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/5/2022 khi ly hôn nguyện vọng của chị được nuôi cả hai con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 đồng cho hai con, tại phiên tòa chị L yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho 01 con, 02 con là 4.000.000 đồng/ tháng.

Về tài sản: Trong thời gian kết hôn chị có mua 02 lô đất tại thửa đất số 518, tờ bản đồ số 08 giấy chứng nhận QSD đất số CV 497247 do UBND huyện T cấp ngày 19/5/2020 mang tên chị và thửa đất số 509 tờ bản đồ số 08 giấy chứng nhận QSD đất số CV 497246 do UBND huyện T cấp ngày 15/5/2020 mang tên chị. Hai mảnh đất trên chị mua là do chính đồng tiền riêng của chị và bố mẹ đẻ giúp chị mua được, bố mẹ chị có vay thêm ngân hàng cho chị mua không có đóng góp của anh T. Trước khi ly hôn chị đề nghị anh T làm biên bản thỏa thuận công nhận 2 quyền sử dụng đất trên là tài sản riêng của chị.

Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh T đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, giải quyết cho anh T được ly hôn chị L; về con chung giao cả 02 con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh T chỉ có khả năng cấp dưỡng nuôi con chung ở mức 1.000.000 đồng/ tháng cho 01 con, 02 con là 2.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung anh T không yêu cầu giải quyết và cũng không tranh chấp với chị L, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn T. Về hôn nhân giải quyết cho anh T ly hôn chị L; Về con chung: giao cháu Phan Nguyễn Tùng A, sinh ngày 14/6/2014 và Phan Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/5/2022 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng cho 01 con, 02 con là 3.000.000 đồng/tháng; Về tài sản chung: anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; đối với yêu cầu của chị L về việc đề nghị anh T làm biên bản thỏa thuận công nhận 2 quyền sử dụng đất là của chị, giành quyền khởi kiện cho chị L bằng vụ án khác khi chị L có yêu cầu và có căn cứ; Về án phí: anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: anh T yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa anh và chị L; chị L cư trú tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; anh T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự; anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa T và chị L:

Quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị L trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tin tưởng nghi ngờ tình cảm dành cho nhau, nên đã sống ly thân mỗi người mỗi nơi từ năm 2020, vợ chồng không gần nhau nên tình cảm phai nhạt, anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn chị L, chị L cũng xác định tình cảm không còn nên đồng ý ly hôn.

Vì vậy, có căn cứ để xác định, hôn nhân giữa anh T và chị L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: anh T và chị L có 02 con chung là Phan Nguyễn Tùng A, sinh ngày 14/6/2014 và Phan Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/5/2022, kể từ khi vợ chồng sống ly thân cả 02 con chung đều ở với chị L. Khi ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con, anh T đồng ý khi ly hôn anh giao cả 02 con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.

HĐXX xét thấy chị L có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của anh T và chị L, giao cháu Phan Nguyễn Tùng A, sinh ngày 14/6/2014 và Phan Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/5/2022 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 10.000.000 đồng cho cả hai con, tại phiên tòa chị L đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho 01 con, 02 con là 4.000.000 đồng/tháng; anh T không đồng ý với mức cấp dưỡng này, anh trình bày anh chỉ có khả năng cấp dưỡng ở mức 2.000.000 đồng/ tháng cho 02 con.

Hội đồng xét xử xét thấy anh T làm công việc tự do, không có căn cứ để xác định mức thu nhập cụ thể hàng tháng của anh T. Căn cứ vào khả năng thực tế của anh T và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, nên buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng cho 01 con, 02 con là 3.000.000 đồng/tháng là phù hợp.

[4] Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị L đề nghị anh T làm biên bản thỏa thuận công nhận 02 quyền sử dụng đất đối với 02 lô đất tại thửa đất số 518, tờ bản đồ số 08 giấy chứng nhận QSD đất số CV 497247 do UBND huyện T cấp ngày 19/5/2020 và thửa đất số 509 tờ bản đồ số 08 giấy chứng nhận QSD đất số CV 497246 do UBND huyện T cấp ngày 15/5/2020 mang tên chị là tài sản riêng của chị.

Tại đơn đề nghị ngày 07/5/2024 anh T trình bày: Tài sản là 02 quyền sử dụng đất của chị L là tài sản riêng của chị L, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng chỉ mang tên một mình chị L, tôi không đóng góp tài sản và công sức đối với những tài sản đó.

Anh T không yêu cầu giải quyết về tài sản và không tranh chấp về tài sản với chị L, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với yêu cầu của chị L về việc đề nghị anh T làm biên bản thỏa thuận công nhận 2 quyền sử dụng đất là của chị, anh T không có tranh chấp với chị L, chị L chưa có căn cứ để chứng minh, nên giành quyền khởi kiện cho chị L bằng vụ án khác khi chị L có yêu cầu và có căn cứ

[5] Về án phí: Anh T khởi kiện vụ án ly hôn, không thuộc trường hợp được miễn án phí, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 116, 117 và Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn T:
    • - Về hôn nhân: anh Phan Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
    • - Về con chung: Giao cháu Phan Nguyễn Tùng A, sinh ngày 14/6/2014 và Phan Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/5/2022 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Anh Phan Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, thực hiện định kỳ hàng tháng, mỗi tháng mỗi tháng 1.500.000 đồng/con, 02 con là 3.000.000 đồng/tháng (Ba triệu đồng một tháng), thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 6 năm 2024 cho đến khi con thành niên.

    Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Anh Phan Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000 đồng án phí về việc cấp dưỡng nuôi con chung được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0006855 ngày 14/11/2023. Anh Phan Văn T còn phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Chị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND phường Hải Ninh, TX Nghi Sơn;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ - ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh T ly hôn chị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger