Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày 17 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Oanh và Bà Vũ Thị Tịnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Thùy – Kiểm sát viên.

Ngày 17/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 12/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Ngọc P; sinh năm 1967; Giới tính: Nam.

Nơi thường trú: xóm C, thôn K, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông: Nguyễn Ngọc G và con bà: Lê Thị X (đều đã chết)

A, chị, em ruột: có 04 người, bị cáo là con thứ tư.

Vợ: Đàm Thị T, con: có 02 con, lớn sinh năm 1994 và nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14/4/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án ngày 15/11/2007.

Ngày 04/12/2009 bị UBND thành phố H quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 30/9/2011.

Ngày 12/11/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong bản án ngày 16/7/2014.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25 tháng 12 năm 2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Xuân T1, SN 1957.
  2. Trú tại: Đ, thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

  3. Anh Đỗ Thanh T2, SN 1984.
  4. Trú tại: thôn B, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

  5. Chị Nguyễn Thị B, SN 1991.
  6. Trú tại: Thôn G, xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh.

  7. Bà Đàm Thị T, SN 1970.
  8. Trú tại: thôn T, xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 10 phút ngày 25/12/2023, Nguyễn Ngọc P đã mang theo 202.000đ (Hai trăm linh hai nghìn đồng) điều khiển xe mô tô biển số 99E1-224.14 đi từ nhà đến xã T, huyện K để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến đoạn đường gần Nghĩa Trang thuộc thôn B, xã T, P gặp một người đàn ông lạ mặt (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở ven đường, nhìn dáng người giống người nghiện chất ma túy. P tiến lại gần và nói: “Có hàng không để cái” (Ý P muốn hỏi mua ma túy của người đàn ông). Người đàn ông nói: “Có”. P đưa 190.000đ (gồm 02 tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng và 07 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng) và được người đàn ông này lấy từ trong người ra 01 gói giấy màu trắng loại giấy kẻ ôly đưa cho P. Biết bên trong gói giấy có ma túy nên P cầm gói giấy cất vào tất chân bên phải đang đi và quay xe về tìm nơi sử dụng. Khi đi đến đoạn đường nhựa thuộc thôn B, xã T thì P bị công an xã T phát hiện bắt quả tang thu giữ gói giấy màu trắng loại giấy kẻ ôly bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ trong tất chân bên phải của P 01 gói giấy màu trắng loại giấy kẻ ôly, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột; 01 chiếc xe mô tô biển số 99E1-224.14; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6S màu xám và số tiền 12.000 đồng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã khám xét nơi ở của Nguyễn Ngọc P nhưng không phát hiện thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 111/KL-KTHS(MT) ngày 28/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì niêm phong có khối lượng là: 0,208g, là ma túy, loại: Heroine.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho P: Quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 44/CT - VKSKC ngày 11/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử phạt Nguyễn Ngọc P từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,198g là ma túy, loại Heroine là mẫu hoàn lại sau khi giám định của Phòng K Công an tỉnh H.

Trả lại bị cáo P chiếc xe mô tô biển kiểm soát 99E1-224.14 là phương tiện đi lại hàng ngày của bị cáo, không sử dụng vào mục đích phạm tội; 01 chiếc điện thoại Iphone 6S màu xám và 12.000đ (Mười hai nghìn đồng).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo P thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, việc giao nộp và thu thập tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc P thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng. Đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 35 phút ngày 25/12/2023, tại thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Ngọc P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,208 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng đều bị pháp luật cấm, nhưng do lối sống buông thả, đua đòi bị cáo vẫn cố ý mua ma túy về tàng trữ để sử dụng trái phép. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, khối lượng ma túy, loại Heroin 0,208 gam. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự: “Heroine; Methamphetanine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc P về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện; từ hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguồn gốc làm phát sinh các loại tội phạm khác gây mất trật tự trị an xã hội và sự bất bình trong dư luận Nhân dân tại địa phương. Bị cáo biết rất rõ tác hại của việc sử dụng chất ma túy đối với sức khỏe, kinh tế của gia đình, cũng như hệ lụy xấu của việc sử dụng ma túy để lại cho xã hội. Là đối tượng nghiện ma túy, đã từng bị xử lý hành chính, bị xử phạt tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Nhưng do không chịu rèn luyện tu dưỡng bản thân và đua đòi, bị cáo đã bất chấp tất cả để lao vào con đường phạm tội. Nên cần áp dụng mức hình phạt thỏa đáng, xét xử nghiêm minh cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung về loại tội phạm này.

[4]Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Nhân thân: Ngày 14/4/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 04/12/2009 bị UBND thành phố H quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng.

Ngày 12/11/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm, thu nhập không ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án:

  • Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,198 gam ma túy, loại Heroine là mẫu hoàn lại sau khi giám định của Phòng K Công an tỉnh H.
  • Trả lại bị cáo P chiếc xe mô tô biển kiểm soát 99E1-224.14 là phương tiện đi lại hàng ngày của bị cáo, bị cáo không sử dụng chiếc xe máy vào việc phạm tội. 01 chiếc điện thoại Iphone 6S màu xám do quá trình điều tra xác định P không sử dụng điện thoại đó để liên hệ mua bán, trao đổi ma túy và số tiền 12.000 đồng.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; 46; 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Điều 106, 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Ngọc P 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 25/12/2023.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,198 gam ma túy, loại Heroine là mẫu hoàn lại sau khi giám định của Phòng K Công an tỉnh H.

Trả lại bị cáo Nguyễn Ngọc P chiếc xe mô tô biển kiểm soát 99E1-224.14; 01 chiếc điện thoại Iphone 6S màu xám và số tiền 12.000 đồng.

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 32/QĐ-VKS-KC ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND huyện Khoái Châu;
  • - Công an huyện Khoái Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Khoái Châu;
  • - UBND xã An mỹ, huyện Mỹ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger