Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày: 17/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Lâm;

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Văn Nguyên;

2/ Ông Vũ Văn Kiên;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:

Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2023. Tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 06/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 03/4/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình B, sinh năm: 1984 tại huyện P, tỉnh Hưng Yên;

Giới tính: Nam;

HKTT: thôn P, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Đình N (đã chết); Con bà Vũ Thị L (đã chết). Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba.

+ Nhân thân:

- Ngày 19/3/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên (nay là thành phố P), tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 13/12/2015;

- Ngày 03/8/2015, bị Công an huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trực tiếp xâm hại sức khỏe của người khác” và được miễn tiền phạt theo Quyết định miễn tiền phạt vi phạm hành chính số: 01/ngày 14/8/2015 của Công an huyện M, tỉnh Sơn La;

+ Tiền án: 02 tiền án:

- Bản án số 35/2019/HSST ngày 25/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2020;

- Bản án số: 15/2021/HSST ngày 06/5/2021 Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 16 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/5/2022.

+ Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1970; Trú tại: thôn C, xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 20 phút ngày 15/12/2023, tại khu dân cư mới thôn C, xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh H bắt quả tang Nguyễn Đình B, sinh năm 1984, trú tại: thôn P, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Kiểm tra, thu giữ tại túi quần phía trước bên trái B đang mặc 02 gói giấy bạc, bên trong chứa chất cục và bột màu trắng (niêm phong ký hiệu MT1).

Bản kết luận giám định số: 21/KL-KTHS(MT) ngày 18/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu MT1 là ma túy, loại Heroine có khối lượng: 0,694 gam.

Quá trình điều tra: Nguyễn Đình B thừa nhận số ma túy (H) thu giữ là của B. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, B khai nhận mua của người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực đường bê tông thuộc thôn C, xã T, huyện P với số tiền 200.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho B, do B không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ nên không đủ thông tin xác minh, xử lý.

Vật chứng thu giữ: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 21/KL - KTHS (MT) bên trong chứa 0,687 gam ma túy, loại heroine hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an tỉnh H.

Cáo trạng số: 32/CT-VKS-P1 ngày 06/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Đình B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 15/12/2023. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2

Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định.

Bị cáo nhất trí, không tranh luận với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình và hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà như: Lời khai của người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản kết luận giám định số: 21/KL-KTHS(MT) ngày 18/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh H, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Bản thân bị cáo nghiện ma túy (Heroine) nên thường mua ma túy về sử dụng. Ngày 15/12/2023, bị cáo đi đến khu vực đường bê tông thuộc thôn C, xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên mua ma túy của người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với số tiền 200.000 đồng. Sau đó bị cáo giấu ma túy trong túi quần trước bên trái rồi đi bộ đến khu vực khu dân cư mới cùng thôn để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng đã bị Công an tỉnh H bắt quả tang, thu giữ tại túi quần trước bên trái của bị cáo 02 gói giấy bạc bên trong chứa các cục và bột có tổng khối lượng 0,694 gam là ma túy, loại heroine. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện. Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy nên biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy cũng như hậu quả và hệ lụy do ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người nghiện, gia đình và xã hội. Mặt khác, từ việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến lây lan căn bệnh thế kỷ HIV -

3

AIDS. Đối tượng là tầng lớp thanh - thiếu niên, là nguồn lao động chính trong xã hội, gây băng hoại đạo đức xã hội, làm giảm sức lao động và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Nhưng vì nghiện ma túy mà bị cáo đã bất chấp tất cả để đi vào con đường phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm minh.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo nhân thân xấu, bị cáo nhiều lần bị Tòa án nhân dân các địa phương khác nhau xét xử về các tội danh khác nhau trong đó có tội phạm liên quan đến ma túy.

[5] Về hình phạt:

Mặc dù bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo được hưởng ít tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt tù giam về hành vi liên quan đến ma túy chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội và gia đình. Để có ma túy sử dụng bị cáo lại tiếp tục mua ma túy về tàng trữ để sử dụng, lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và tiếp tục cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

*Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với 01 phong bì hoàn mẫu vật sau giám định số: 21/KL-KTHS (MT) của Phòng K - Công an tỉnh H bên trong chứa: 0,687 gam ma túy, loại Heroine là vật Nhà nước câm mua bán, không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

4

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt:

    Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 15/12/2023.

  3. Về biện pháp tư pháp:

    Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phòng bì hoàn mẫu vật sau giám định số: 21/KL-KTHS(MT) của Phòng K - Công an tỉnh H bên trong chứa 0,687 gam ma túy, loại Heroine.

    (Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/3/2024 giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh H).

  4. Về án phí:

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, VP, THS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Lâm

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy 0,694g Heroin
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger