|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày 16-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Phụng.
Ông Nguyễn Văn Sĩ.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Phục - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M, sinh năm 1979, tại tỉnh Đồng Tháp; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1940 (chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1949 (chết); có vợ tên Lê Thị T1, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và có 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/8/2021, Công an xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định số: 20/QĐ-XPHC xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt xong ngày 09/8/2021; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên toà.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn M:
Nguyễn Văn M1, sinh năm 1974 (có mặt).
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị hại: Dương Thị T2, sinh năm 1976 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Phạm Quốc C1, sinh năm 1990 (có đơn xin vắng mặt).
2. Mai Thị Bích N, sinh năm 1996 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
3. Nguyễn Văn M1, sinh năm 1974 (có mặt).
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người làm chứng: Ngô Văn H, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ, ngày 29/12/2023, Nguyễn Văn M một mình điều khiển xe mô tô biển số 66N1 - 387.17 đến nhà bà Dương Thị T2 ở cùng ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp chơi. Đến nơi, M nhìn thấy nhà bà T2 đóng cửa không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Méo mở cửa nhà đi vào trong đến tủ nhôm đựng quần áo (tủ có 03 cánh, 02 cánh trám nhôm, 01 cánh trám kính) mở cửa cánh trám kính thấy 01 túi xách màu đen, kiểm tra bên trong có 02 hộp tròn, 01 hộp nhỏ có 01 tờ tiền tiền mệnh giá 500.000 đồng, 01 hộp lớn có 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng có gắn mặt hình trái tim, trên mặt dây chuyền có gắn đá màu xanh. Méo không lấy hộp đựng tiền, mà lấy 01 hộp đựng dây chuyền vàng rồi điều khiển xe mô tô đến Tiệm V (Duy A) do Phạm Quốc C1 đứng tên đăng ký doanh nghiệp tư nhân tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để bán dây chuyền cho Mai Thị Bích N (vợ C1). N đồng ý mua, nhưng phải gỡ bỏ viên đá màu xanh gắn trên mặt hình trái tim để xác định trọng lượng, M đồng ý. Ngà cại viên đá bỏ ra và cân sợi dây chuyền và mặt trọng lượng 2,62 chỉ vàng, mua với giá 7.800.000đồng, M đồng ý và nhận tiền về nhà tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 02/01/2024, T2 mở tủ kiểm tra phát hiện bị mất tài sản nên trình báo Công an.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn M thừa nhận: do không có tiền tiêu xài cá nhân nên mới vào nhà bà T2 lấy trộm tài sản như đã nêu trên.
Kết luận giám định số: 132/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận: Một dây chuyền bằng kim loại màu vàng, dạng mắc xích, có chiều dài 46cm, có gắn mặt dây chuyền dạng hình trái tim bằng kim loại màu vàng, có đóng ký tự “L”, được niêm phong trong phong bì giấy màu trắng ghi ký hiệu A nêu trên gửi giám định có chứa thành phần kim loại vàng (A), hàm lượng trung bình kim loại vàng 62,5%, có tổng khối lượng 9,827gam.
Kết luận định giá tài sản số: 05/KL-ĐGTS ngày 20/02/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Một dây chuyền bằng kim loại vàng có đặc điểm dạng mắc xích, có chiều dài 46cm, có
gắn mặt dây chuyền kim loại vàng có đặc điểm dạng hình trái tim (hàm lượng trung bình loại vàng 62,5%), trọng lượng vàng 9,827 gam (01 chỉ = 3,750gam), giá trị định giá là: 3.950.000đồng/chỉ ( 2,620chỉ x 3.950.000đồng = 10.349.000đồng.
Vật chứng thu giữ, gồm: Nguyễn Văn M: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn đen bạc, biển số 66N1 - 387.17, số khung: 3919KY0533749, số máy: JA39E0909774, (xe đã qua sử dụng); Mai Thị Bích N: 01 dây chuyền bằng kim loại màu, dạng mắc xích (màu vàng) có gắn mặt dây chuyền dạng hình trái tim.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn M trước khi phạm tội có bị bệnh trầm cảm, mất ngủ, hàng tháng phải đến Bệnh viện Tâm thần tỉnh Đ điều trị.
Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 158/2024/KLGĐ ngày 16/5/2024 của Trung tâm P - Bộ Y, kết luận: Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và hiện tại đương sự có bệnh lý tâm thần, giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32.0 - ICD10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và hiện tại đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Căn cứ Công văn số: 158.2/PYTT ngày 03/6/2024 của Trung tâm P - Bộ Y, trả lời: Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và thời điểm giám định: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự.
Tại Cáo trạng số: 37/CT-VKSTN ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tình hình tội phạm trộm cắp tài sản hiện nay gia tăng, gây mất an ninh trật tự, chính trị địa phương nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, q, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M, phạm tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Bị cáo Nguyễn Văn M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo và cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn M1 trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa và Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh đối với bị cáo, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt do bị cáo nhất thời phạm tội, hoàn cảnh khó khăn. Đối với xe mô tô biển số 66N1 - 387.17 bị cáo M hỏi mượn của ông M1 vào ngày 29/12/2023 để xe đi làm thuê, ông M1 không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội. Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại xe mô tô nêu trên cho ông M1 nhận lại xong, không có yêu cầu gì khác.
Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình vi phạm pháp luật là sai nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bà T2, anh C1, chị N, ông H đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhưng bà T2, anh C1, chị N vắng mặt có lý do, riêng ông H vắng mặt không có lý do. Xét thấy, tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai lưu vào trong hồ sơ vụ án và đã giải quyết xong về trách nhiệm dân sự nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường và Bản ảnh cùng ngày 10/01/2024 của Công an huyện T; Lời khai bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 10 giờ ngày 29/12/2023, bị cáo Nguyễn Văn M một mình điều khiển xe mô tô biển số 66N1 - 387.17 đến nhà bà T2 ở cùng ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp chơi. Đến nơi, bị cáo nhìn thấy nhà T2 đóng cửa, không có người trông giữ nên mở cửa đi vào lấy trộm 01 dây chuyền bằng kim
loại màu vàng có gắn mặt hình trái tim, trên mặt dây chuyền có gắn đá màu xanh bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Theo Kết luận định giá tài sản số: 05/KL-ĐGTS ngày 20/02/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Một dây chuyền bằng kim loại vàng trọng lượng vàng 9,827 gam, giá trị định giá là 10.349.000đồng. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn M tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an ninh ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Bị hại có đơn xin cho bị cáo hưởng án treo, tuy nhiên bị cáo có nhân thân không tốt bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Tại phiên toà, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, tình hình tội phạm trộm cắp tài sản có chiều hướng gia tăng trên địa bàn huyện T, để ổn định an ninh trật tự chính trị địa phương. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của bà T2, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng phòng ngừa, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong; bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo hưởng án treo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, q, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bị cáo làm thuê thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho bị hại T2 nhận lại đủ số vàng 01 (một) dây chuyền bằng kim loại vàng, dạng mắc xích, có chiều dài 46cm, có gắn mặt dây chuyền dạng hình trái tim bằng kim loại màu vàng, có đóng ký từ “L”, tổng khối lượng vàng 9,827gam theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 27/3/2024. Đối với viên đá màu xanh bị hư hỏng và hộp đựng dây chuyền bị cáo M đã ném bỏ, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được, bị hại T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Xét thấy, bị hại đã nhận lại vàng và không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với Tiệm V (Duy A) do anh Phạm Quốc C1 đứng tên chủ doanh nghiệp tư nhân, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra thu hồi 01 dây chuyền bằng kim loại màu trả lại cho bị hại. Sau đó, bị cáo M đã trả lại số tiền 7.800.000đồng cho anh Phạm Quốc C1 nhận xong theo Biên bản thỏa thuận dân sự ngày 29/3/2024 và không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 01 (một) dây chuyền bằng kim loại vàng, dạng mắc xích, có chiều dài 46cm, có gắn mặt dây chuyền dạng hình trái tim bằng kim loại màu vàng, có đóng ký từ “L”, tổng khối lượng vàng 9,827gam. Xét thấy, bị hại T2 đã nhận lại xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn đen bạc, biển số 66N1 - 387.17, số khung: 3919KY0533749, số máy: JA39E0909774, (xe đã qua sử dụng) do ông Nguyễn Văn M1 đứng tên chủ sở hữu. Xét thấy, ông M1 không biết bị cáo mượn xe đi trộm và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo M nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông M1 nhận lại xong (Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 29/3/2024), Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét
[8] Đối với ông Nguyễn Văn M1 và bà Mai Thị Bích N không biết bị cáo sử dụng xe, bán vàng do trộm cắp tài sản mà có. Tại phiên tòa, bị cáo khai những người nêu trên hoàn toàn không biết bị cáo đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý về hành vi của ông M1, bà N.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Huỳnh Kim Oanh |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm
