TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày: 16/5/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Viết Vĩnh
- Ông Nguyễn Văn Hợi
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Ngô Quốc Hưng; Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C
Tên gọi khác: Không Giới tính: nam; Sinh ngày 05 tháng 7 năm 1990;
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Xóm D, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1965; Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1966, Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Chưa có vợ con.
Tiền án: 01 tiền án.
Tại Bản án số 45/2016/HSST ngày 22/6/2016 của TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/4/2018; chấp hành xong bản án ngày 04/12/2023, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: không
Nhân thân: Tại Bản án số 18 ngày 24/02/2011 của TAND tỉnh Thái Nguyên xử phạt 05 năm về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/8/2014, chấp hành xong khoản án phí, thu lời bất chính ngày 14/3/2011;
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/12/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại: Anh Tạ Như B, sinh năm 1988; (Có mặt)
HKTT: Xóm C, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988 và chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1994; Cùng HKTT: Xóm K, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965; (Có mặt)
Trú tại: xóm D, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
* Người làm chứng:
- Anh Phạm Văn N1, sinh 1987; (Vắng mặt)
Trú tại: xóm V, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Anh Nguyễn Văn N2, sinh năm 1992; (Vắng mặt)
Trú tại: xóm L, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
- Anh Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1999; (Vắng mặt)
Trú tại: thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái
* Người chứng kiến: Anh Đặng Văn T4, sinh năm 1985; (Vắng mặt)
Trú tại: xóm Q, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 28/11/2023, Nguyễn Văn C đến quán bia tại xóm Q, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên của vợ chồng anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị T2 để uống bia cùng với Tạ Như B, Phạm Văn N1. Sau đó có thêm anh Nguyễn Văn N2 và anh Nguyễn Thanh T3 đến uống bia cùng. Quá trình uống bia, giữa C, B và N1 xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. C đứng dậy thanh toán tiền thì B tiếp tục chửi C nên C dùng tay phải cầm cốc thủy tinh dùng để uống bia đập 02 phát vào vùng mặt của B rồi tiếp tục cầm 01 ca nhựa (dùng để đựng bia) đập vào vùng mặt của B. Khi thấy B bị C đánh, N1 dùng 01 cốc bia ở trên bàn đập 01 phát trúng vào vùng trán của C. C lấy 01 chiếc ghê gỗ (dạng ghế gấp) đập 01 phát về phía Nam thì N1 giơ tay phải lên đỡ được. Sau đó được mọi người can ngăn, C bỏ chạy ra phía ngoài cửa thì N1 tiếp tục đuổi theo đánh C nên C chạy quay lại thì bị B cầm chiếc bát sứ ném về phía C nhưng không trúng mà trúng vào chiếc ti vi phía sau của gia đình anh T1. Sau đó được mọi người tiếp tục can ngăn thì hai bên không đánh nhau nữa. Hậu quả: B bị thương tích ở vùng mặt, cằm, cổ ngực phải đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện Đ. C bị thương tích ở vùng trán không đi khám và điều trị, Nam không bị thương tích gì, 01 ti vi nhà anh T1 bị hư hỏng.
Sau khi sự việc xảy ra, quần chúng nhân dân đã trình báo Công an xã N đến lập biên bản vụ việc sau đó chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 29/11/2023, cơ quan điều tra Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 239/ QĐ - ĐTTH và Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 09 ngày 07/12/2023 đối với Trung tâm pháp y tỉnh T. Nội dung: Tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe đối với từng vết thương và tổng tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên trên cơ thể của Tạ Như B? Cơ chế hình thành thương tích đối với từng vết thương.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 1008 ngày 01/12/2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh T, kết luận: “Vết thương đang liền sẹo vùng trán kéo xuống sống mũi, tỷ lệ 3%. Cơ chế: Do tác động của vật có cạnh sắc. Vết thương đang liền sẹo gò má phải, tỷ lệ 3%. Cơ chế: Do tác động của vật có cạnh sắc. Vết thương đang liền sẹo lông mày phải, tỷ lệ 3%. Cơ chế: Do tác động của vật có cạnh sắc. Vết thương đang liền sẹo cằm phải, tỷ lệ 3%. Cơ chế: Do tác động của vật có cạnh sắc. Vết thương đang liền sẹo vùng ngực, tỷ lệ 1%. Cơ chế: Do tác động của vật có cạnh sắc. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Tạ Như B tại thời điểm giám định là 12%.”
Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương trên cơ thể người sống số 1035 ngày 15/12/2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh T, kết luận: “Sẹo vùng trán kéo xuống sống mũi, tỷ lệ 3%. Cơ chế: Do tác động của vật có cạnh sắc. Sẹo gò má phải vết 1, tỷ lệ 3%. Cơ chế: Do tác động của vật có cạnh sắc. Sẹo gò má phải vết 2, tỷ lệ 3%. Cơ chế: Do tác động của vật có cạnh sắc. Sẹo gò má phải vết 3, tỷ lệ 3%. Cơ chế: Do tác động của vật có cạnh sắc. Sẹo lông mày phải, tỷ lệ 3%. Cơ chế: Do tác động của vật có cạnh sắc. Sẹo cằm phải, tỷ lệ 3%. Cơ chế: Do tác động của vật có cạnh sắc. Sẹo vùng ngực, tỷ lệ 1%. Cơ chế: Do tác động của vật có cạnh sắc. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Tạ Như B tại thời điểm giám định là 18%.”
Ngày 07/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra yêu cầu định giá tài sản đối với 01 ti vi màu đen, nhãn hiệu LG, ti vi cũ đã qua sử dụng. Ti vi bị hư hỏng nứt vỡ màn hình của gia đình anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị T2. Nội dung yêu cầu định giá tài sản: xác định giá trị chi phí sửa chữa, thay thế, phục hồi nguyên trạng tài sản.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 114 ngày 15/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định “Chi phí thay thế màn hình ti vi nhãn hiệu LG, model 65UN729PTE, sản xuất tháng 01 năm 2021 là 3.900.000 đồng.”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. C khai do mâu thuẫn, cãi chửi nhau giữa C, N1 và B trong quá trình uống bia, C đã dùng cốc thủy tinh đập 02 nhát vào mặt B, dùng 01 ca đựng bia bằng nhựa đập vào vùng mặt của B. Hậu quả khiến cho B bị thương tích phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện. C xác định toàn bộ vết thương của B theo kết luận giám định số 1008 ngày 01/12/2023 và kết luận giám định bổ sung tổn thương trên cơ thể người sống số 1035 ngày 15/12/2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh T là do C gây ra. Ngoài nguyên nhân đó ra, C xác định giữa C và B không có mâu thuẫn từ trước.
Vật chứng của vụ án: 04 mảnh vỡ của bát màu trắng, có bám dính vật chất màu nâu đỏ được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu B. 01 mảnh giấy ăn bám dính vật chất màu nâu đỏ đã khô được niêm phong trong phong bì ký hiệu M, 11 mảnh thủy tinh màu trắng được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu C. 01 ca nhựa màu xanh được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu D, 01 chiếc ghế bằng kim loại màu đen, mặt ghế bằng gỗ được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu G và 01 chiếc ti vi nhãn hiệu LG 65 inch. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình chở xử lý. Đối với chiếc ti vi nhãn hiệu LG đã được trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 quản lý, sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn C đã tự nguyện bồi thường cho Tạ Như B số tiền 15.000.000 đồng. B không có yêu cầu, đề nghị gì khác và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho C. Đối với thương tích của Phạm Văn C1, C1 không có yêu cầu, đề nghị gì. Đối với chiếc ti vi của gia đình anh T1 bị vỡ màn hình, B đã đền bù cho gia đình anh T1 nên anh T1, chị T2 không có yêu cầu, đề nghị gì, không có yêu cầu bồi thường cốc thủy tinh, bát sứ, ca nhựa đã bị vỡ. Đối với 01 ghế gấp, anh T1, chị T2 không có ý kiến gì.
Tại bản Cáo trạng số 16/CT - VKSPB ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố Nguyễn Văn C về tội: Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm d,đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS Xử phạt: Nguyễn Văn C từ 36 đến 42 tháng tù.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 04 mảnh vỡ của bát màu trắng, có bám dính vật chất màu nâu đỏ được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu B; 01 mảnh giấy ăn bám dính vật chất màu nâu đỏ đã khô được niêm phong trong phong bì ký hiệu M; 11 mảnh thủy tinh màu trắng được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu C; 01 ca nhựa màu xanh được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu D; 01 chiếc ghế bằng kim loại màu đen, mặt ghế bằng gỗ được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu G
Đối với 01 (một ) đĩa DVD lưu giữ sự việc vào ngày 28/11/2023 được niêm phong trong phong bì kí hiệu “DVD1”lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận giữa bị cáo và người bị hại đã bồi thường xong, người bị hại không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và được kháng cáo theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo không nhất trí Viện kiểm sát truy tố và luận tội đối với bị cáo với tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm d khoản 2 Điều 134 bộ luật hình sự vì bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án xét xử về tội cướp tài sản nên đã được xóa án tích, chỉ còn bản án của TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Đánh bạc”, ngày 04/12/2023 bị cáo mới nộp tiền phạt bổ sung nên chưa được xóa án tích.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với bị cáo: Viện kiểm sát truy tố với bị cáo với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm d khoản 2 Điều 134 bộ luật hình sự vì tại bản án số 45/2016/HSST ngày 22/6/2016 của TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xác định bị cáo đã tái phạm và bị cáo chưa được xóa án tích, lần này bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn C đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng hơn 17 giờ ngày 28/11/2023, tại quán bia của gia đình anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị T2 có địa chỉ tại xóm Q, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Do phát sinh mâu thuẫn, cãi chửi nhau trong quá trình uống bia, Nguyễn Văn C đã có hành vi dùng tay phải cầm cốc uống bia (loại cốc thủy tinh) đập liên tục 02 nhát vào vùng mặt của người bị hại anh Tạ Như B, tiếp theo, bị cáo tiếp tục cầm chiếc ca nhựa màu xanh (dùng để đựng bia) đập 01 nhát vào vùng mặt của anh B. Hậu quả anh B bị thương tích tại vùng mặt, cằm, ngực. Tỷ lệ tổn thương cơ thể qua giám định của Tạ Như B là 18% (đã được làm tròn số).
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Trong vụ án này, giữa bị cáo và người bị hại không có mâu thuẫn từ trước, chỉ vì trong quá trình uống bia xảy ra việc mâu thuẫn, va chạm, chửi bới nhau, bị cáo C đã dùng hung khí nguy hiểm (cốc thủy tinh), có độ sát thương, nguy hiểm đập 02 nhát vào vùng mặt bên phải của anh B. Khi anh B không có dấu hiệu kháng cự, bị cáo cầm ca bia bằng nhựa, tiếp tục đập vào vùng mặt của anh B, điều đó thể hiện tính chất côn đồ, coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác của bị cáo, đồng thời gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Tại bản cáo trạng số 16/CT - VKSPB ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn C về tội: Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Bản án số 18 ngày 24/02/2011 của TAND tỉnh Thái Nguyên xử phạt C 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/8/2014, đã nộp xong các khoản án phí, thu lời bất chính ngày 14/3/2011. Bản án số 45/2016/HSST ngày 22/6/2016 của TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/4/2018; chấp hành xong bản án ngày 04/12/2023.
Tại Điều 73 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định cách tính thời hạn để xóa án tích:
- “1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.
- 2. Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết hiệu lực thi hành....”
Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính của bản án mới (bản án số 45/2016/HSST ngày 22/6/2016 của TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên) từ ngày 11/4/2018. Như vậy theo quy định tại Điều 70 và khoản 2 Điều 73 Bộ luật hình sự năm 2015 thì bản án số 18/2011 ngày 24/02/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm”.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo về tội cố ý gây thương tích theo điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là chưa phù hợp.
Hội đồng xét xử xác định hành vi phạm tội lần này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cụ thể điều luật quy định như sau:
“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm
i) Có tính chất côn đồ;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này...”
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng:
Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm tới sức khỏe của công dân được nhà nước bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng hung khí nguy hiểm (cốc thủy tinh) có khả năng gây thương tích cao cho người khác, tuy nhiên chỉ vì mâu thuẫn cá nhân nên bị cáo đã cố tình phạm tội. Lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, do vậy cần thiết phải đưa bị cáo ra xét xử công khai để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Bị cáo đã thực hiện việc bồi thường cho người bị hại để khắc phục hậu quả, do vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS là “ Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả” và “ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra người bị hại anh Tạ Như B xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do vậy bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 18 ngày 24/02/2011 của TAND tỉnh Thái Nguyên xử phạt C 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Đã được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”. Do vậy bị cáo phải chịu tỉnh tiết tăng nặng “ Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Tòa án đưa ra xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, lại tiếp tục phạm tội, cho thấy ý thức chấp hành pháp luật kém, coi thường pháp luật của bị cáo.
[4]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo xuất thân từ người lao động nhưng không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Chỉ vì mâu thuẫn cá nhân, lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau trong quá trình uống bia, giữa bị cáo và bị hại không hề có mâu thuẫn từ trước, bị cáo đã đánh gây thương tích cho bị hại 18%. Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, coi thường pháp luật. Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử bởi 02 bản án, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện trở thành người tốt, trái lại còn tiếp tục phạm tội, do đó để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định để giáo dục bị cáo trở thành một người công dân tốt, có ích cho xã hội. Mức án mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với vật chứng: 04 mảnh vỡ của bát màu trắng, có bám dính vật chất màu nâu đỏ được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu B; 01 mảnh giấy ăn bám dính vật chất màu nâu đỏ đã khô được niêm phong trong phong bì ký hiệu M; 11 mảnh thủy tinh màu trắng được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu C; 01 ca nhựa màu xanh được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu D; 01 chiếc ghế bằng kim loại màu đen, mặt ghế bằng gỗ được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu G không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với vật chứng là 01 đĩa DVD lưu giữ sự việc vào ngày 28/11/2023 được niêm phong trong phong bì kí hiệu “DVD1” là chứng cứ để xác định hành vi phạm tội của bị cáo nên lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận giữa bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong về phần Dân sự, người bị hại không có đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Những vấn đề khác:
Trong vụ án này, Phạm Văn N1 có hành vi dùng cốc thủy tinh gây thương tích cho C 3% tuy nhiên C không có yêu cầu, xử lý hình sự đối với hành vi của N1 nên Cơ quan Công an huyện P đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 0002422/QĐ - XPHC ngày 11/01/2024 đối với Nam theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
Nguyễn Văn C cũng có hành vi dùng ghế gỗ đánh vào người N1 gây thương tích 0%, không cấu thành tội phạm, do vậy cơ quan Công an huyện P đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 0002423/QĐ – XPHC ngày 11/01/2024 đối với C theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
Đối với thiệt hại của chiếc ti vi nhãn hiệu LG 65 inch của gia đình anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị T2, B không cố ý gây ra. Hai bên đã tự nguyện thỏa thuận đền bù dân sự cho nhau nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là phù hợp.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST sung Ngân sách nhà nước.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội : “Cố ý gây thương tích".
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 05/12/2023.
Áp dụng Điều 329 của BLTTHS: Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận giữa bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong về phần Dân sự, người bị hại không có đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 04 mảnh vỡ của bát màu trắng, có bám dính vật chất màu nâu đỏ được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu B; 01 mảnh giấy ăn bám dính vật chất màu nâu đỏ đã khô được niêm phong trong phong bì ký hiệu M; 11 mảnh thủy tinh màu trắng được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu C; 01 ca nhựa màu xanh được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu D; 01 chiếc ghế bằng kim loại màu đen, mặt ghế bằng gỗ được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu G.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/03/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình)
Lưu kèm theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu giữ sự việc vào ngày 28/11/2023 được niêm phong trong phong bì kí hiệu “DVD1”.
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho chị T2, anh T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hà |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
