Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày 16/4/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Nghiệp Hồng
  2. Bà Đàm Thu Ánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Ngon - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Ngô Ngọc Tú H (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 22/02/2000, tại Cần Thơ; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: 2/2 KV1, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở: 2 L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Vĩnh T và bà Huỳnh Thị N; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Tấn Đ (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 13/3/1991, tại Bình Định; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: Tổ F khu phố I, Phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Chỗ ở: 2 L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị H1; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 ngày 29/10/2023, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Thành phố H phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q và Công an P, Quận A kiểm tra hành chính nhà số B L, Phường C, Quận A là nơi ở của đối tượng Ngô Ngọc Tú HTrần Tấn Đ. Qua kiểm tra, phát hiện tại phòng ngủ có 01 dĩa sành chứa ma túy (gói 2), 01 thẻ nhựa, 01 ống hút. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà trên, kết quả: phát hiện và thu giữ tại bàn trang điểm của đối tượng H trong phòng ngủ: 05 gói nilon chứa tinh thể là ma túy (gói 1); phát hiện và thu giữ trong tủ các gói ni long chứa 07 viên nén màu hồng (gói 3); 08 viên nén màu xanh dương, 01 mảnh viên nén màu xanh dương là ma túy (gói 4); 01 viên nén màu xanh lá, 01 mảnh viên nén màu xanh lá (gói 5); 01 viên nén màu xám (gói 6). Ngoài ra còn thu giữ 01 cân điện tử, 01 bình ga mini, 02 quẹt ga, 03 điện thoại di động hiệu Iphone. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với đối tượng H và đối tượng Đ.

Tại bản Kết luận giám định số 12055/KL-KTHS ngày 06/11/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận:

Gói 1 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Ngô Ngọc Tú H, Trần Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận A bên trong chứa ma túy loại Ketamine, khối lượng 8,028 gam.

Gói 2 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Ngô Ngọc Tú H, Trần Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận A bên trong chứa ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,423 gam.

Gói 3 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Ngô Ngọc Tú H, Trần Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận A bên trong chứa ma túy loại MDMA, khối lượng 2,7844 gam.

Gói 4 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Ngô Ngọc Tú H, Trần Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận A bên trong chứa ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 2,9798 gam và ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 0,2004 gam.

Gói 5 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Ngô Ngọc Tú H, Trần Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận A bên trong chứa ma túy loại MDMA, khối lượng 0,4911 gam.

Gói 6 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Ngô Ngọc Tú H, Trần Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận A bên trong chứa ma túy loại MDMA, khối lượng 0,4381 gam.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Ngô Ngọc Tú H khai nhận hành vi phạm tội như sau: Bị can H và bị can Đ có quan hệ bạn trai bạn gái, cùng thuê nhà sông chung tại địa chỉ 2 L, Phường C, Quận A. Do cùng nghiện ma túy, cả hai bị can thường hùn tiền mua ma túy để sử dụng từ 01 đối tượng tên N1 (không rõ lai lịch) qua ứng dụng Zalo. Khoảng 04 ngày trước ngày bị bắt quả tang, bị can H mua ma túy Ketamine với giá 8.000.000 đồng và ma túy MDMA, MDMB – 4en – PINACA với giá 4.000.000 đồng từ tên N1. Sau đó, bị can Huỳnh cất MDMA, MDMB – 4en – PINACA (gói 3, 4, 5, 6) vào tủ để sử dụng sau, không cho bị can Đ biết. Số ma túy Ketamine mua với số tiền 8.000.000 đồng thì bị can H nói cho bị can Đ biết và mang ra cùng bị can Đ sử dụng. Khi sử dụng, mỗi ngưởi tự lấy ma túy, tự sử dụng. Bị can Đ hùn 200.000 đồng vào tiền mua ma túy Ketamine trên. Khoảng 01 ngày sau, cả hai bị can sử dụng một phần ma túy Ketamine thì còn dư 01 ít ma túy trên đĩa (gói 2), 05 gói ma túy (gói 1) để trên bàn. Ngày 29/10/2023, qua kiểm tra, khám xét nơi ở, Cơ quan điều tra thu giữ số ma túy bị can Huỳnh mua và cất giữ như trên. Đối với số ma túy hai bị can mua trước đó đã sử dụng hết, bị can H và bị can Đ không nhớ số lượng, loại ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Trần Tấn Đ khai nhận hành vi phạm tội như bị can H khai nhận trên.

Vật chứng thu giữ:

  • - Sáu gói ma túy bao gồm: Gói 1 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Ngô Ngọc Tú H, Trần Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận A bên trong chứa ma túy loại Ketamine, khối lượng 8,028 gam; Gói 2 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Ngô Ngọc Tú H, Trần Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận A bên trong chứa ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,423 gam; Gói 3 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Ngô Ngọc Tú H, Trần Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận A bên trong chứa ma túy loại MDMA, khối lượng 2,7844 gam; Gói 4 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Ngô Ngọc Tú H, Trần Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận A bên trong chứa ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 2,9798 gam và ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 0,2004 gam; Gói 5 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Ngô Ngọc Tú H, Trần Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận A bên trong chứa ma túy loại MDMA, khối lượng 0,4911 gam; Gói 6 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Ngô Ngọc Tú H, Trần Tấn Đ và hình dấu Công an P, Quận A bên trong chứa ma túy loại MDMA, khối lượng 0,4381 gam.
  • - Một dĩa sành, một thẻ nhựa, một ống hút nhựa là dụng cụ sử dụng ma túy.
  • - Một cân điện tử, một máy ép bao bì, một bình ga mini, hai quẹt ga là dụng cụ bị can H dùng buôn bán bột mặt nạ làm đẹp.
  • - Một điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, bị can H dùng liên lạc mua ma túy.
  • - Một điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, bị can Đ dùng liên lạc mua ma túy.
  • - Một điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, bị can Đ dùng liên lạc với người thân, bạn bè.

Tại Bản cáo trạng số 41/CT-VKSQ11 ngày 26/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Ngô Ngọc T1 Huỳnh tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 và truy tố bị can Trần Tấn Đ tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Ngọc Tú H và bị cáo Trần Tấn Đ có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra Công an Q và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo như sau:

  • - Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Ngọc T1 Huỳnh từ 05 năm đến 06 năm tù.
  • - Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Tấn Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Kiểm sát viên đề nghị xử lý vật chứng như sau:

  • - Tịch thu tiêu hủy sáu gói niêm phong là ma túy còn lại sau giám định.
  • - Tịch thu tiêu hủy một dĩa sành, một thẻ nhựa, một ống hút nhựa, một cân điện tử, một máy ép bao bì, một bình ga mini, hai quẹt ga.
  • - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước một điện thoại di động hiệu Iphone màu xám và một điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh.
  • - Trả lại cho bị cáo Trần Tấn Đ một điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào lúc 11 giờ 00 phút ngày 29/10/2023, tại nhà số B L, Phường C, Quận A, bị cáo Ngô Ngọc Tú H và bị cáo Trần Tấn Đ đã có hành vi cất giữ ma túy loại Ketamine, khối lượng 8,451 gam (đựng trong gói 1 và gói 2).

Ngoài ra, bị cáo Ngô Ngọc Tú H còn có hành vi cất giữ riêng bốn gói ma túy khác, gồm: Ma túy loại MDMA, khối lượng 2,7844 gam (gói 3), ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 2,9798 gam và ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 0,2004 gam (gói 4), ma túy loại MDMA, khối lượng 0,4911 gam (gói 5) và ma túy loại MDMA, khối lượng 0,4381 gam (gói 6).

Các bị cáo Ngô Ngọc Tú HTrần Tấn Đ khai nhận bản thân nghiện ma túy và cất giữ ma túy để sử dụng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển. Song các bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất gây nghiện, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục các bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

[2] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Trần Tấn Đ đã có hành vi cùng với bị cáo Ngô Ngọc T1 Huỳnh cất giữ ma túy loại Ketamine, khối lượng 8,451 gam (đựng trong gói 1 và gói 2) nên thuộc trường hợp phạm tội quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Ngô Ngọc Tú H đã có hành vi cùng với bị cáo Trần Tấn Đ cất giữ ma túy loại Ketamine, khối lượng 8,451 gam (đựng trong gói 1 và gói 2) và còn có hành vi cất giữ riêng bốn gói ma túy khác, gồm: Ma túy loại MDMA, khối lượng 2,7844 gam (gói 3), ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 2,9798 gam và ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 0,2004 gam (gói 4), ma túy loại MDMA, khối lượng 0,4911 gam (gói 5) và ma túy loại MDMA, khối lượng 0,4381 gam (gói 6).

Căn cứ Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy trong trường hợp các chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của một trong các Điều 248, 249, 250, 251, 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng của các chất ma túy đối với từng chất ma túy thu giữ của bị cáo Ngô Ngọc Tú H là 122,0365% nên hành vi của bị cáo Ngô Ngọc T1 Huỳnh thuộc hợp phạm tội quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; các bị cáo phạm tội lần đầu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo không có tiền án và không có tiền sự.

[4] Về xử lý vật chứng:

Vật chứng thu giữ:

Đối với vật chứng là sáu gói niêm phong bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một dĩa sành, một thẻ nhựa, một ống hút nhựa là dụng cụ sử dụng ma túy; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một cân điện tử, một máy ép bao bì, một bình ga mini, hai quẹt ga không còn giá trị sử dụng; căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tích thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Iphone màu xám và một điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh là phương tiện dùng vào việc phạm tội; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng là tài sản cá nhân của bị cáo Đ không dùng vào việc phạm tội; căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo.

[5] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Ngô Ngọc Tú HTrần Tấn Đ, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về xem xét vai trò, trách nhiệm của đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với đối tượng tên N1 là người đã bán ma túy cho bị cáo H và bị cáo Đ, do không xác định được lai lịch của đối tượng nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm là có căn cứ. Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra, truy xét để xử lý đối với đối tượng N1.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Ngô Ngọc Tú H;

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Tấn Đ;

Tuyên bố bị cáo Ngô Ngọc Tú H và bị cáo Trần Tấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ngô Ngọc Tú H 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/10/2023.

Xử phạt bị cáo Trần Tấn Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/10/2023.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy sáu gói được niêm phong là ma túy còn lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 191/LNK-ĐCSMT ngày 23/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Tịch thu, tiêu hủy một dĩa sành, một thẻ nhựa, một ống hút nhựa (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 191/LNK-ĐCSMT ngày 23/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Tịch thu, tiêu hủy một cân điện tử, một máy ép bao bì, một bình ga mini, hai quẹt ga (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 103/LNK-ĐCSMT ngày 06/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước một điện thoại di động hiệu Iphone màu xám và một điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 103/LNK-ĐCSMT ngày 06/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Trả lại cho bị cáo Trần Tấn Đ một điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 103/LNK-ĐCSMT ngày 06/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PC 27 - CA TPHCM;
  • - VKSND Q.11;
  • - Công an Q.11;
  • - Chi cục THADS Q.11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Cơ Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger