Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 38/2024/HS-PT

Ngày 04/10/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Túc
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Bà Hoàng Ngọc Liễu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Thư ký TAND tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình: Bà Bùi Thị Thảo Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/HSPT ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Vi Thị Minh T do có kháng cáo của bị cáo Vi Thị Minh T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.

Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng nghị:

Vi Thị Minh T, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Tổ E đường N, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn N, sinh năm 1961; Con bà Trần Thị T1, sinh năm 1963; Chồng Nguyễn Đức Q, sinh năm 1985 (đã ly hôn), C 02 con: Lớn sinh năm 2013; nhỏ sinh năm 2015;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 28/7/2023 Công an huyện K xử phạt hành chính về hành vi gây mất trật tự tại Cơ quan tổ chức.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn có bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 7/2022, gia đình ông Bùi Văn D có nhu cầu chuyển nhượng thửa đất số 41, tờ bản đồ số 05 tại xóm Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình và một số thửa đất khác của hộ liền kề cũng có nhu cầu muốn chuyển nhượng. Nên ông Tạ Văn V nắm được thông tin trên rồi đăng tải lên hội nhóm mua bán bất động sản trên mạng xã hội. Vi Thị Minh T biết được thông tin trên nên đã liên hệ với ông V, hai bên cùng đi xem vị trí thực tế của các thửa đất. Sau đó T đăng tải thông tin về việc chuyển nhượng các thửa đất nói trên lên hội nhóm bất động sản trên mạng xã hội mà T tham gia, với điều kiện, ai muốn mua bán chuyển nhượng thì phải đặt cọc trước cho T 200.000.000 đồng, T có trách nhiệm làm các thủ tục đo đạc, trích lục bản đồ địa chính.

Ông Nguyễn Thế A là anh trai ruột của bà Nguyễn Thị Vân A1 biết nội dung T đăng tải nêu trên. Bà Vân A1 là người bỏ tiền ra mua bán, nên có nhờ anh trai là ông Thế A chủ động liên hệ với T để trao đổi thêm thông tin. Thu gửi ảnh chụp thực tế thửa đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Thế A xem trước. Do trước đó T không gặp gỡ, không có trao đổi gì với ông D, dẫn đến bản ảnh chụp thông tin số thửa trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị mờ không rõ số thửa (41 hay 44). Trong khi bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D đang thế chấp vay tiền tại Ngân hàng.

Đến ngày 26/7/2022, T dẫn ông Thế A đi xem vị trí thửa đất. Đến nơi, ông Thế A gọi điện thoại video cho bà Vân A1 cùng xem. Hai bên thỏa thuận và thống nhất với nhau về giá cả chuyển nhượng là 3.300.000.000 đồng. Bà Vân A1 đồng ý, cùng ngày hai bên lập hợp đồng đặt cọc, bà Vân A1 đặt cọc trước cho T số tiền 200.000.000 đồng. Thu nhận tiền và phải có trách nhiệm làm thủ tục trích đo, khi nào có kết quả bà Vân A1 sẽ chuyển cọc tiếp số tiền là 800.000.000 đồng. Với điều kiện, sau 07 ngày mà không có kết quả trích đo thì T phải trả lại số tiền cọc 200.000.000 đồng, cộng thêm tiền phạt cọc là 130.000.000 đồng cho bà Vân A1. Sau khi nhận tiền cọc từ bà Vân A1, T đã sử dụng vào việc riêng trả nợ cho người khác.

Đến ngày 04/8/2022, T mới biết thửa đất bị thiếu diện tích (6.000 m²) so thỏa thuận ban đầu và cũng không thể chuyển đổi từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở lâu dài (đất thổ cư) nên không tiến hành làm thủ tục mua bán được, nên báo lại cho bà Vân A1 và ông Thế A biết. Đồng thời hứa hẹn trả lại tiền cọc và tiền phạt cho bà Vân A1 tổng số tiền là 330.000.000 đồng. Sau nhiều lần bà Vân A1 đòi tiền, T trả được cho bà Vân A1 02 lần, cụ thể: Lần 1 vào ngày 08/8/2022 T có chuyển khoản trả trước cho bà Vân A1 số tiền 30.000.000 đồng; lần 2 vào ngày 24/02/2023 T trả tiếp được 15.000.000 đồng. Số tiền còn lại T xin gia hạn, cứ mỗi lần đến hạn, không có tiền nên T lại xin gia hạn tiếp.

Ngày 16/02/2023 bà Vân A1 đồng ý cho T trả nguyên tiền cọc (200.000.000 đồng). Do vậy, số tiền T còn phải trả cho bà Vân A1 là 155.000.000 đồng.

Ngày 16/8/2022 Hoàng Thị Thanh H đến gặp và nhờ T vay giúp số tiền 200.000.000 đồng để làm ăn. Bà H có thế chấp cho T một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình, có số thửa là 142, tờ bản đồ số 13, diện tích 180,5m², địa chỉ thửa đất tại phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. T nói với H nếu muốn vay tiền thì phải lập Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho T để thuận tiện thực hiện giao dịch vay tiền. Bà H đồng ý cùng T đến Văn phòng Công chứng để lập Hợp đồng, rồi đưa cho T bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với điều kiện T không được chuyển nhượng cho ai, chỉ để làm tin cho việc vay tiền giữa hai bên và yêu cầu bà H gửi cho T giấy tờ cá nhân để T làm thủ tục vay tiền. Sau đó T liên hệ với ông Nguyễn Văn T2 hỏi vay số tiền 200.000.000 đồng cho bà H, nhưng ông T2 chỉ đồng ý cho vay số tiền 110.000.000 đồng, vì không đủ số tiền muốn vay nên T báo lại cho bà H biết. Vì không đủ số tiền mà mình muốn vay, nên bà H nói với T dừng lại không vay nữa và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình. T không trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H mà vẫn tiếp tục dùng để thế chấp cho ông T2 vay 110.000.000 đồng và làm hợp đồng chuyển nhượng luôn cho ông T2.

Bà Vân A1 liên tục đòi tiền nhưng T không trả. Mặc dù đã làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất của bà H cho ông T2, nhưng T lại nói dối bà Vân A1 là thửa đất số 142 của bà H là của mình rồi. Nên sẽ chuyển nhượng lại cho bà Vân A1 để đối trừ khoản tiền cọc trước đó. Do tin tưởng nên bà Vân A1 yêu cầu T lập Hợp đồng chuyển nhượng sang tên cho mình. T nói với chị Vân A1 việc sang tên ở trrang 4 (bốn) phải mất ít nhất 15 ngày, nên đưa ra đề nghị với bà Vân A1 hai bên phải lập một Giấy viết tay mua bán thửa đất này.

Để giải quyết số tiền đã đặt cọc thửa đất của ông D (200 triệu đồng), nên ngày 21/8/2022, T và ông Thế A đến Văn phòng B thuộc thị trấn C, huyện C, tỉnh Hòa Bình lập Hợp đồng đặt cọc thửa số 142 của chị Hoàng Thị Thanh H với giá 320.000.000 đồng, để đối trừ số tiền đã đặt cọc trước đấy với chị Vân A1. Thời hạn đặt cọc là 15 ngày.

Đến ngày 06/9/2022 là thời điểm hết hạn 15 ngày ghi trong Hợp đồng đặt cọc, bà Vân A1 yêu cầu T phải làm hồ sơ chuyển nhượng thửa đất nói trên. Biết không thể kéo dài thời gian thêm nữa T nói dối bà Vân A1 là “Hiện tại bà H chưa hoàn thành thủ tục sang tên thửa đất cho T, T sẽ hủy việc sang tên cho T để chuyển nhượng thẳng từ tên bà H sang luôn cho bà Vân A1 để tránh qua nhiều bước và giảm tiền nộp thuế” nên bà Vân A1 đồng ý, hai bên hẹn đến ngày 07/9/2022 sẽ cùng nhau đến Ủy ban nhân dân thị trấn V để làm thủ tục chuyển nhượng.

Để tạo niềm tin, nên T có đưa ra thông tin gian dối là mình đang mua thửa đất này với số tiền 1.250.000.000 đồng, tiền thuế chuyển nhượng là 42 triệu đồng và đang nhờ ông Bùi Văn H1 làm thủ tục và yêu cầu bà Vân A1 gửi giấy tờ cá nhân để T làm hồ sơ. Do lo sợ sẽ phải gặp mặt trực tiếp bà Vân A1, nên T bảo bà Vân A1 là đã ký xong Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất cho bà Vân A1 rồi, chỉ cần đến ký là xong.

Sau một thời gian ông T2 có gọi điện hỏi ông H1 đã làm giúp thủ tục hồ sơ chuyển nhượng giữa T và ông T2 xong chưa. Lúc này ông H1 mới phát hiện thửa đất của bà H hiện đang cùng lúc chuyển nhượng cho hai người là ông T2 và bà Vân A1, nên ông H1 gọi điện thông báo cho ông T2 và bà Vân A1 biết để dừng làm thủ tục chuyển nhượng và trả lại bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho T để các bên tự giải quyết. Sau đó bà H yêu cầu T trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình nhưng T đều né tránh.

Ngày 30/9/2022 T có gặp bà H tại thành phố H xin giữ lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để giải quyết những rắc rối mà T đang gặp, bà H đồng ý nhưng với điều kiện chỉ cho mượn trong thời hạn 14 ngày. Hết thời hạn trên bà H nhiều lần yêu cầu gặp T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình, nhưng T đều đưa ra lý do không đến được. Không yên tâm vì T đang cầm bản gốc Giấy chứng nhận và chưa hủy Hợp chuyển nhượng về nội dung vay tiền trước đó, nên bà H đã chủ động đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L để tra cứu về tình trạng thửa đất của mình, mới biết T đã làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất của mình cho ông T2 và có đơn đề nghị dừng ngay lại không được chuyển nhượng cho người khác.

Biết hành vi gian dối của T, nên ngày 19/7/2023 bà Vân A1 làm đơn tố đến Cơ quan điều tra Công an huyện K để giải quyết.

Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình quyết định: Tuyên bố bị cáo Vi Thị Minh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b,s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Thị Minh T 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/12/2023.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/8/2024 bị cáo Vi Thị Minh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm: Về thời hạn kháng cáo và thủ tục thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo đã được thực hiện trong thời hạn và đúng hình thức theo quy định;

Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vi Thị Minh Thu N1 thấy: Tòa cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt, đối với bị cáo đã áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền cho bị hại là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T 42 tháng tù là đúng người, đúng tội.

Tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên toà ngày hôm nay: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền cho bị hại, bản thân bị cáo trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Hiện tại có hoàn cảnh khó khăn, có 02 con nhỏ, mới ly hôn chồng; Do đó có căn cứ xem xét chấp nhận kháng cáo xin được giảm nhẹ của bị cáo là có cơ sở.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, Điểm c, khoản 1, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Vi Thị Minh T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình về phần hình phạt đối với bị cáo Vi Thị Minh T theo hướng: Giảm hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo 36 tháng tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về xã hội, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo đúng thời hạn theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Vào tháng 07/2022, sau khi nhận tiền đặt cọc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất với số tiền là 200.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Vân A1 nhưng không thực hiện được, Vi Thị Minh T đã đưa ra nhiều thông tin gian dối để chiếm đoạt số tiền trên rồi sử dụng mục vào đích cá nhân.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Vi Thị Minh T về tội Lam dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân không có tiền án, tiền sự: Tích cực bồi thường khắc phục hậu quả; Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện, khách quan các tình tiết của vụ án, xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Tuy nhiên tại giai đoạn xét xử phúc thẩm có tình tiết mới, bị cáo trình bày hiện tại hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, chồng vừa mới ly hôn, có hai con còn nhỏ cần chăm sóc, bản thân bị cáo thường xuyên ốm đau, bệnh tật; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xem xét chấp nhận.

Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Vi Thị Minh T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Hình sự; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5]. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vi Thị Minh T; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình đối với bị cáo Vi Thị Minh T, cụ thể:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Tuyên bố bị cáo Vi Thị Minh T phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

    Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Vi Thị Minh T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/12/2023.

  2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Vi Thị Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 04/10/2024.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hoà Bình;
  • - VKSND huyện Kim Bôi;
  • - TAND huyện Kim Bôi;
  • - CQ THAHS: CA h.Kim Bôi;
  • - Chi cục THADS h. Kim Bôi
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Túc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-PT ngày 04/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về vụ án hình sự phúc thẩm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 38/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Vi Thị Minh T phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger