Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

Bản án số: 38/2024/HS-PT

Ngày: 15 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Duyên

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũng

Bà Nguyễn Thị Tư

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Bích Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Tuyết Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 80/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Lê Khắc N cùng các bị cáo khác do có kháng cáo của bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2024/HS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Lê Khắc N, sinh năm: 1984.

    Nơi cư trú: ấp H, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Trần Thị Đ1; có vợ là Lê Thị Thanh T và 03 người con; tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: ngày 15/9/2015, bị Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, theo Quyết định số 0003969/QĐ-XPHC, đóng phạt ngày 23/9/2015.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2023 đến ngày 07/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Nguyễn Quốc H, sinh năm: 1983.

    Nơi cư trú: ấp H, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ2 và bà Nguyễn Thị N1; có vợ là Tào Thị Thu T1 và 02 người con; tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân:

    • Ngày 12/11/2003, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với người vi phạm hành chính thời hạn 24 tháng, về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” theo Quyết định số 4040/QĐ.UB.
    • Ngày 01/10/2016, bị Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”, theo Quyết định số 0003976/QĐ-XPHC, đã đóng phạt xong.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2023 đến ngày 07/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 ngày 24/9/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố V phối hợp cùng Công an P, thành phố V tiến hành kiểm tra hành chính quán K tại địa chỉ số D, đường T, Phường A, thành phố V. Tại phòng số 2, phát hiện các bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H và Lê Trung H1 đang sử dụng chất ma túy. Tại hiện trường thu giữ: 01 bịch nylon chứa chất bột màu trắng và 01 bịch nylon chứa tinh thể trong suốt màu trắng cùng các vật dụng để sử dụng ma túy. Qua làm việc xác minh nhanh, các bị cáo N, H, H1 đều thừa nhận nghiện ma túy và các bị cáo vừa mua ma túy mang đến quán K1 để sử dụng, số ma túy chưa sử dụng hết còn để trên bàn lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật liên quan.

Theo Kết luận giám định số 671/KL-KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh Vĩnh Long, kết luận:

  • Mẫu chất bột màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong phong bì (đánh số 01) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2576 gam, loại Heroine.
  • Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong phong bì (đánh số 2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2604 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, các bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H và Lê Trung H1 khai nhận: đều là các đối tượng nghiện ma túy. Ngày 24/9/2023, các bị cáo sau khi uống Methadol xong thì đến quán cà phê ven đường ở công viên Đất Thánh T thuộc Phường A, thành phố V ngồi uống cà phê chung. Lúc này, bị cáo N nói “buồn quá kiếm chỗ nào vui vẻ một tỷ”, thì bị cáo H và bị cáo H1 hiểu ý là mua ma túy về sử dụng chung. Tất cả thống nhất hùn tiền mua ma tuý: bị cáo N hùn 200.000 đồng, bị cáo H hùn 100.000 đồng, tổng cộng là 300.000 đồng đưa cho bị cáo H1 để đi mua ma túy đá (Methamphetamine), do bị cáo H1 đã trả tiền cà phê và bỏ công đi mua nên không hùn tiền và hẹn nhau vào khu vực vườn còng tại Phường A, thành phố V tìm quán karaoke để làm địa điểm sử dụng. Trong lúc, bị cáo H1 đi mua ma tuý đá, bị cáo N đi đến Công viên thành phố V gặp người thanh niên tên Nguyễn Phước Đ3 mua 100.000 đồng ma túy, loại H2 đem đến quán karaoke; sau đó, bị cáo H1 mua ma tuý đá đến và cùng nhau sử dụng thì bị bắt quả tang tại quán K.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo N là Nguyễn Phước Đ3 hiện Cơ quan điều tra - Công an thành phố V đã khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đang tiếp tục điều tra trong vụ án khác; đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo H1 do không có họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác minh được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với chủ quán karaoke Ngọc T2 không biết các bị cáo N, H1 và H thuê phòng hát karaoke để sử dụng ma túy, đến khi lực lượng Công an kiểm tra thì mới biết nên không đề cập xử.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 28/2024/HS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H, Lê Trung H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

  • Xử phạt bị cáo Lê Khắc N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án hoặc bị bắt để chấp hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2023 đến ngày 07/02/2024.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án hoặc bị bắt để chấp hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2023 đến ngày 07/02/2024.
  • Xử phạt bị cáo Lê Trung H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án hoặc bị bắt để chấp hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2023 đến ngày 07/02/2024.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03 tháng 6 năm 2024, bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H cùng có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, bị cáo Lê Trung H1 có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt để điều trị bệnh mắt.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, bị cáo Lê Trung H1 có đơn rút toàn bộ kháng cáo, Tòa án đã đình chỉ xét xử đối với bị cáo Lê Trung H1.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm: sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

  • Xử phạt bị cáo Lê Khắc N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về án phí: các bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Lời nói sau cùng của các bị cáo N, H: xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; lời thừa nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 24/9/2023, cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: các bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H, Lê Trung H1 là những đối tượng nghiện ma túy, ngày 24/9/2023 sau khi uống Methadol xong thì các bị cáo N, H, H1 cùng uống cà phê chung và rủ nhau mua ma túy về sử dụng; bị cáo N hùn 200.000 đồng, bị cáo H hùn 100.000 đồng đưa cho bị cáo H1 đi mua ma túy; sau đó bị cáo N mua thêm 100.000 đồng ma túy, loại H3 và cùng hẹn đến quán karaoke Ngọc T2 tại địa chỉ số D, đường T, Phường A, thành phố V để sử dụng ma túy, đến khoảng 13 giờ cùng ngày đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố V kết hợp cùng Công an P, thành phố V tiến hành kiểm tra hành chính phòng số 2 quán karaoke thì phát hiện các bị cáo N, H, H1 đang sử dụng ma túy và thu giữ 01 bịch nylon chứa chất bột màu trắng là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,2576 gam và 01 bịch nylon chứa tinh thể trong suốt màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2604 gam. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
  3. [3] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H nhận thấy: các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo là lao động chính trong nhà. Mẹ bị cáo H đang mắc bệnh hiểm nghèo, các con bị cáo H còn nhỏ, đây là tình tiết giảm nhẹ mới để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo H. Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đồng phạm giản đơn, chỉ là bạn bè cùng nghiện ma túy như nhau, cùng rủ nhau sử dụng và các bị cáo tàng trữ để sử dụng không nhằm mục đích mua bán, các bị cáo giữ vai trò ngang nhau, nên mức án các bị cáo ngang nhau; do đó, khi xem xét giảm nhẹ cho bị cáo H cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo N, nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của các bị cáo.
  4. [4] Lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là chưa được chấp nhận.
  5. [5] Về án phí hình sự phúc thẩm: do chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H, nên các bị cáo không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  6. [6] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H; sửa bản án sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

  • Xử phạt bị cáo Lê Khắc N 01 (một) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2023 đến ngày 07/02/2024.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 01 (một) tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2023 đến ngày 07/02/2024.

2. Án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Lê Khắc N, Nguyễn Quốc H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC + VKSNDTC: 02;
  • - TANDCC + VKSNDCC: 02;
  • - VKSND TVL: 02;
  • - TAND TP V: 02;
  • - VKSND + CQĐT TP V: 02;
  • - CQTHADS +THAHS TP V: 02;
  • - TG + BC: 04;
  • - PHSCAVL: 01;
  • - STP: 01;
  • - UBND, CA xã M 02;
  • - Lưu VP, P.KTNV: 02;
  • - Lưu hồ sơ vụ án: 02.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký tên và đóng dấu)

Huỳnh Thị Kiều Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-PT ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo N cùng các bị cáo khác phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger