|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2023/HS-ST Ngày: 15-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đô;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Quốc Tiến;
- Bà Nguyễn Thị Phượng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Kim Xoa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 và ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Phước Đ, sinh ngày 28/11/2001; tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp K, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Lê Văn Đ1, sinh năm: 1962 và bà Lê Thị O (chết); Gia đình bị cáo có 04 anh, chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ: từ ngày 22/4/2023 đến ngày 01/5/2023; Tạm giam: Không; Áp dụng biện pháp: Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Lê Văn Đ1, sinh năm 1962 (có mặt);
Địa chỉ: ấp K, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Phước Đ là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 13 giờ, ngày 22/4/2023, Đ đi nhờ xe mô tô người bạn tên P đến Bến xe C tỉnh Tiền Giang gặp người thanh niên tên T không biết họ và địa chỉ để mua 6.500.000 đồng ma túy. Lúc này, T đưa cho Đ một bịch nylon dạng kẹp có đường màu đỏ, bên trong có 05 viên thuốc màu xanh và 02 bịch nylon dạng kẹp có đường màu xanh có chứa ma túy; Đ cất giấu số ma túy trong túi quần rồi đợi bạn đến rước về nhà. Khi về đến nhà, Đ thay quần áo, lấy ma túy vừa mua được cất giấu vào túi áo và lấy xe môtô biển số 63B7-667.60 của gia đình điều khiển đến nhà bạn tên P1 ở xã B, huyện C chơi. Đến đoạn đường ĐT 846 thuộc khu vực tổ B, ấp D, xã B, huyện C thì bị Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an tỉnh Đ kết hợp với Công an huyện C và Công an xã B yêu cầu dừng xe kiểm tra thì Đ lấy ma túy ném bỏ xuống đường phi tang thì bị bắt quả tang.
Tang vật thu giữ: Một bịch nylon dạng kẹp đường màu đỏ, bên trong có 05 viên thuốc màu xanh và 02 bịch nylon dạng kẹp đường màu xanh có chứa nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy; 01 điện thoại di động Iphone màu xanh số IMEI: 356740913693306 số sim 0659992494, 01 điện thoại di động Nokia màu hồng đen bị bể màn hình số IMEI: 353120115144635 có gắn sim 0939093235, số tiền 3.100.000 đồng. Tất cả vật chứng được niêm phong theo quy định pháp luật. Ngoài ra còn thu giữ xe môtô nhãn hiệu honda Wave Alpha màu trắng, biển số 63B7-667.60, số khung RLHJA392XNY085381, số máy JA39E2582316.
Tại kết luận giám định số 452/KL-KTHS ngày 25/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:
- 05 (năm) viên nén màu xanh chứa trong bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp có viền màu đỏ kẹp kín, được niêm phong trong bì thư màu trắng nêu trên gửi giám định không phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy. Mẫu gửi giám định có chứa thành phần B (Benadryl là thành phần chính thuốc điều trị dị ứng, nghẹt mũi, cảm lạnh).
- Tinh thể rắn chứa trong 02 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp một đầu có viền màu xanh kẹp kín, được niêm phong trong cùng bì thư màu trắng nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có tổng khối lượng 4,504 gam, loại Ketamine (số thứ tự 40 thuộc Danh mục III, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Hoàn trả đối tượng gửi giám định: Mẫu viên nén màu xanh còn lại sau giám định có khối lượng 1,471 gam; mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định có khối lượng 4,135 gam. Tất cả mẫu vật nêu trên đã được niêm phong trả cho Cơ quan trưng cầu khi nhận kết luận giám định.
Đối với 02 chiếc điện thoại thu giữ của Đ lúc bắt quả tang đã xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại.
Đối với xe môtô nhãn hiệu honda Wave Alpha màu trắng, biển số 63B7-667.60, số khung RLHJA392XNY085381, số máy JA39E2582316 do ông Lê Văn Đ1 mua lại của anh Đinh Thành P2 ngụ ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang nhưng chưa làm thủ tục sang tên qua xác minh hiện tại ông P2 đã bỏ đi đâu không rõ; Đ dùng làm phương tiện đi lại ông Đ1 không biết. Tài sản không phải là vật chứng nên đã trả lại cho ông Đ1.
Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, cùng các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSHCL ngày 06/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Lê Phước Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đồng thời, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Lê Phước Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Phước Đ với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định và cũng không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu viên nén màu xanh còn lại sau giám định có khối lượng 1,471gam; mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định có khối lượng 4.135gam. Tất cả được niêm phong trong bì thư ký hiệu 442 ngày 22/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ;
- T1 lại cho Lê Phước Đ số tiền 3.100.000 đồng;
- (Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang tạm quản lý).
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Phước Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 30/CT-VKSHCL ngày 06/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Bị cáo Lê Phước Đ là đối tượng nghiện ma túy đã sử dụng số tiền 6.500.000 đồng để mua ma túy có khối lượng 4,504 gam, loại Ketamine của người tên T (không rõ nhân thân) nhằm mục đích sử dụng cá nhân thì bị bắt quả tang vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 22/4/2023 tại đường Đ, thuộc tổ B, ấp D, xã B, huyện C.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai biên bản phạm tội quả tang ngày 22/4/2023, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Phước Đ đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Xét hành vi của bị cáo Lê Phước Đ, khi thực hiện tội phạm là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo còn khai rằng hiểu rõ tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, bản thân để cai nghiện chất ma túy, thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây nguy hại lớn về nhiều mặt đối với đời sống xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Đồng thời, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy trong xã hội và phát sinh các loại tội phạm khác, trong khi toàn xã hội đang kiên quyết đấu tranh phòng, chống các tệ nạn và các tội phạm về ma tuý. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật; đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông nội là Lê Văn B1 được công nhận là liệt sĩ; ông ngoại Lê Văn S là người có công cách mạng; bị cáo lao động chính, đang trực tiếp nuôi cha là ông Lê Văn Đ1 đang bị bệnh. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, khi lượng hình cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp cũng như thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý như sau:
- - Mẫu viên nén màu xanh còn lại sau giám định có khối lượng 1,471gam; mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định có khối lượng 4.135gam. Tất cả được niêm phong trong bì thư ký hiệu 442 ngày 22/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Số tiền 3.100.000 đồng không liên quan đến vụ án nên cần xem xét trả lại cho bị cáo;
- (Hiện các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện C đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/7/2023).
[10] Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21; khoản 1 Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Phước Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 30/CT-VKSHCL ngày 06/7/2023 và bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt đối với bị cáo cũng như giải quyết xử lý vật chứng vụ án là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.
[12] Đối tượng tên T bán ma túy cho bị cáo Đ nhưng không biết họ, tên và địa chỉ cụ thể. Khi nào tìm được sẽ làm rõ trách nhiệm và xử lý theo quy định pháp luật sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Phước Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ pháp luật và hình phạt.
Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Phước Đ 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/4/2023 đến ngày 01/5/2023.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu viên nén màu xanh còn lại sau giám định có khối lượng 1,471gam; mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định có khối lượng 4.135gam được niêm phong trong bì thư, ghi “Niêm phong số 442, ngày 22/4/2023” có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ và các chữ ký ghi rõ họ và tên: Nguyễn Ngọc T2, Bùi Văn D, Nguyễn Văn Bé N và Lê Phước Đ;
- Trả lại cho bị cáo Lê Phước Đ số tiền 3.100.000 (Ba triệu một trăm nghìn) đồng;
(Hiện các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện C đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/7/2023).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Buộc bị cáo Lê Phước Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đô |
6
7
Bản án số 38/2023/HS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 38/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
