Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 38/2023/HS-PT

Ngày 15 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lực
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Ái Loan
Ông Nguyễn Văn Mến

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên toà xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 105/2023/TLPT-HS ngày 01/11/2023 đối bị cáo Diệp Thanh Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.

Bị cáo có kháng cáo: Diệp Thanh Q sinh ngày 31/7/1992, tại tỉnh Trà Vinh.

Nơi cư trú: Số D B, khóm D, phường C, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: thợ điện; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Diệp Thanh H năm 1964 và bà Nguyễn Thị Ngọc T năm 1970; tiền án: không; tiền sự: ngày 31/12/2022 bị Trưởng Công an thành phố T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 1.500.000 đồng (đã nộp phạt xong). Bị cáo tại ngoại từ đầu (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/4/2023, bị cáo Diệp Thanh Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84C1-005.68 lưu thông trên đường P Lúc này anh Tiêu Quốc V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84B2-123.03 chở chị Trần Vương Bảo A (là bạn gái của Q1 ngược chiều với xe bị cáo hướng về ngã tư P - Đ bị cáo thấy chị Bảo A1 quay xe lại chạy theo kêu anh V1 chị Bảo A2 lại để nói chuyện, nhưng anh V2 nghe nên vẫn cho xe chạy đi. Khi đến đoạn ngã tư giao nhau giữa đường P - Đ thuộc khóm B, phường C, thành phố T, tỉnh Trà Vinh thì anh V3 xe lại chờ tín hiệu đèn xanh để đi tiếp. Lúc này bị cáo điều khiển xe mô tô từ phía sau chạy tới đụng thẳng vào phía sau đuôi xe mô tô anh V4 điều khiển làm cả hai xe và những người trên xe ngã xuống mặt đường nhựa. Sau đó, cả ba cùng đứng dậy, bị cáo Q2 đến hỏi anh V“Mày biết Bảo Alà bạn gái tao không mà chở”, anh V5 lời: “Không biết” thì bị cáo liền dùng mũ bảo hiểm đang cầm trên tay đánh anh V6 vậy anh V7 dùng mũ bảo hiểm để đánh trả lại, khi hai mũ bảo hiểm va chạm vào nhau thì cả hai mũ bảo hiểm đều bị rơi xuống đường. Lúc này, bị cáo Q3 tục dùng tay đánh trúng vào mí mắt phải và mí mắt trái của anh V8 rách da, chảy máu. Bị Q4, anh V7 dùng tay đánh lại bị cáo nhưng không gây thương tích, sau đó cả hai được chị Bảo A3 ngăn nên không đánh nhau nữa. Nhận được tin báo, lực lượng Công an phường C, tỉnh Trà Vinh đã đến hiện trường giải quyết rồi mời QV và Bảo A về trụ sở Công an phường làm việc. Khi đến trụ sở Công an phường, anh Tiêu Quốc V9 thương chảy máu nên được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh T điều trị, đến ngày 17/4/2023 thì xuất viện.

Hậu quả: Anh Tiêu Quốc V9 gãy xương bàn chân trái, trật khớp gót chân trái, mí mắt phải và mí mắt trái vị rách da gây chảy máu.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 151 ngày 18/4/2023 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh T nhận: Tiêu Quốc V10 viện lúc 22 giờ 15 phút ngày 16/4/2023, ra viện ngày 17/4/2023. Lý do vào viện: sưng, đau biến dạng cổ chân T1 Chẩn đoán: trật khớp gót sên T/gãy xương sên T/ chấn thương khuỷu T/ chấn thương đầu mặt.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 164/2023/KLTTCT-TTPY ngày 25/5/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh T: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Tiêu Quốc V11 thời điểm giám định là: 21% (Hai mươi mốt phần trăm).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh đã tuyên bố bị cáo Diệp T1 Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Diệp Thanh Q02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Tiêu Quốc V12 có yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

- Ngày 02 tháng 10 năm 2023, bị cáo Diệp Thanh Q5 xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Diệp T1 Q khẳng định chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo, không kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại, người bị hại đã rút lại đơn không yêu cầu xử lý hình sự, bị cáo có người thân có công với cách mạng, bị cáo có nghề nghiệp ổn định và có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn (cha mẹ ly hôn, đang nuôi bà ngoại do mất sức lao động, cha vừa bị đột quỵ bị cáo phải chăm sóc).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Vương Bảo A4 nhận trước khi bị cáo và bị hại đánh nhau chị có nói với anh Tiêu Quốc V“Đánh chết mẹ nó đi anh”, còn anh V13 nghe hay không thì chị không biết. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Diệp Thanh Q6 nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.

Bị cáo không tham gia tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng biết mình đã sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo kháng cáo đúng quy định tại các điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nên vụ án được xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, Giấy chứng nhận thương tích, Bản kết luận giám định. Như vậy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/4/2023, sau khi đã uống bia, vì nghen tuông, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84C1-005.68 đụng vào biểm kiểm soát sau xe mô tô 84B2-123.03 của anh Tiêu Quốc V(khi anh V4 dừng chờ tín hiệu đèn xanh), làm xe mô tô của anh V ngã, đè lên người làm gảy xương bàn chân trái của anh V14 đó bị cáo tiếp tục dùng tay đánh nhau với anh V8 anh bị thương tích ở vùng đầu mặt, tổng tỷ lệ thương tích được xác định 21% (trong đó thương tích gãy xương bàn chân trái 16%, thương tích vùng đầu mặt 6%).

[3] Với thương tích bị cáo gây ra cho bị hại như trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với hai tình tiết định khung tăng nặng có tính chất côn đồ và dùng thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người, thấy rằng:

[4] Sau khi xe bị cáo đụng vào xe của bị hại làm hai xe và người cùng ngã trên mặt lộ, hai bên tự đứng dậy rồi cự cải nhau, có tác động câu nói của chị Trần Vương Bảo A “Đánh chết mẹ nó đi anh” thì bị cáo và bị hại cùng đánh nhau bằng mũ bảo hiểm, khi va chạm đầu tiên làm cả hai mũ bảo hiểm rơi xuống lộ, sau đó hai bên tiếp tục đánh nhau bằng tay. Như vậy, hành vi của bị cáo gây thương tích ở vùng đầu, mặt cho bị hại 6% không phải là nguyên cớ do bị cáo gây ra, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ là không chính xác.

[5] Đối với thương tích 16% bàn chân trái của anh V15 bị cáo sử dụng xe mô tô gây ra. Tại thời điểm bị cáo đâm vào đuôi xe của anh V16 xe mô tô của bị cáo và xe mô tô của anh V4 tham gia giao thông, trên xe mô tô của anh V17 có chị Trần Vương B, địa điểm xảy ra sự việc ở nơi công cộng (nơi đông người). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Diệp Thanh Q7 tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ, Khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với tình tiết dùng thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người là có căn cứ. Tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) ...

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

[6] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo chưa có tiền án, có một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi phạm tội đã tự thành khẩn khai báo, bồi thường toàn bộ thiệt hại, bị cáo có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên, đánh giá đúng tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, có cân nhắc đến tình hình chính trị tại địa phương, mức án 02 năm tù là thấp nhất của khung hình phạt, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đã bị xử phạt hành chính, chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt hành chính nên nhân thân không tốt, không đủ điều kiện để được hưởng án treo được quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

[7] Từ những nội dung nhận định trên, xét thấy ý kiến biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Diệp Thanh Q8 có căn cứ, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Diệp Thanh Q, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên bố: Bị cáo Diệp Thanh Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Về trách nhiện hình sự: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Diệp Thanh Q02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Diệp Thanh Q9 chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND thành phố Trà Vinh;
  • - TAND thành phố Trà Vinh;
  • - CA thành phố Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS thành phố Trà Vinh;
  • - Bị cáo, bị hại, NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Lực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2023/HS-PT ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 38/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Diệp Thanh Q cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger