Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Số: 38/2024/HSST

Ngày 15/5/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

    + Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường

    + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Huy Dương; Ông Đinh Quang Hòa .

Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Dịu - Kiểm sát viên.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án hình sự Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024; Đối với các bị cáo:

  1. Lường Văn T, sinh năm 2000. Tên gọi khác: không; Nơi ĐKHKTT và trú tại: Bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Con ông: Lương Văn N, sinh năm 1977; Con bà: Lò Thị S, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1-Công an thành phố H. Số giam 1075E2/19
  2. Lò Văn H, sinh năm 1993. Tên gọi khác: không; Nơi ĐKHKTTvà trú tại: Bản P, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Lò Văn V, sinh năm 1960; Con bà: Lò Thị C, sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không

    Nhân thân: Bản án số 30/HSST, ngày 12/5/2020 Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt Lò Văn H 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy( thời hạn tính từ ngày 30/12/2019), ra trại ngày 30/4/2021; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1-Công an thành phố H. Số giam 1076E2/2.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho các bị cáo.

Bà Nguyễn Minh T1 - Trợ giúp viên pháp lý - Chi nhánh T2 pháp lý số 1, Thuộc Trung tâm T3, t.p H2 ;

Địa chỉ: Số D, N, phường Q, thị xã S, t.p Hà Nội. ( Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

Anh Lường Văn H1, sinh năm 2003.

Nơi ĐKNKTT và trú tại: Bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. ( Vắng mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn L, xã C, thị xã S, t.p Hà Nội .

Ông Cao Hồng V1, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, thị xã S, t.p Hà Nội. ( Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 14/01/2024 tại lán trại công trình xây dựng thuộc xã B, huyện T, Hà Nội. Lường Văn T, (sinh năm 2000, trú tại: Bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên) rủ Lò Văn H, (sinh năm 1993, trú tại: bản P, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên) góp tiền mua ma túy Herroine về cùng sử dụng. Hội đồng ý, sau đó H mượn xe máy BKS:29T4-4172 của anh L là chủ thợ cốt pha để chở Lường Văn T đi mua ma túy, T nói với Hội T có 200.000 đồng và bảo Hội góp 100.000 đồng, do Hội không có tiền nên hỏi vay Lường Văn H1 là em trai của Lường Văn T số tiền 100.000 đồng, H1 không có tiền mặt nên đã chuyển khoản cho H vay số tiền 100.000 đồng. Khi có tiền Hội chở T đi lên khu vực thị xã S để tìm mua ma túy, khi đi đến cây rút tiền của Ngân hàng V2 trên phố C, phường S thì Hội vào rút tiền đưa cho T 100.000 đồng và điều khiển xe máy đến khu vực bến xe S, thị xã S, đến một ngõ nhỏ, T bảo H đứng ngoài đợi, còn T đi vào trong ngõ gặp một người nam giới không quen biết khoảng 40 tuổi mua được 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Mua được ma túy Thủy cầm trên tay trái rồi quay lại chỗ Hội đang đứng đợi và cùng nhau đi tìm nơi sử dụng ma túy, khi đi đến trước cửa siêu thị W thuộc thôn Đ, xã C thì bị Công an xã C kiểm tra phát hiện và bắt quả tang. (Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 14/01/2024) và thu giữ vật chứng gồm:

  • -01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa 01 gói nilong trong suốt có kích thước 1cm x1,5 cm viền mép màu xanh đựng chất bột màu trắng(T khai là ma túy vừa mua được với giá 300.000 đồng do H và T góp tiền mua để sử dụng) ;
  • -01xe máy kiều dáng HONDA Wave, màu sơn xanh, BKS: 29T4-4172, số khung YX110☆ 20011411✩, số máy : VTTJL1P52FMH-P000703( đã cũ).
  • -01 điện thoại Mastel vỏ màu đen, số Imei: 359372101699213 (đã cũ)
  • -01 thẻ VISA ngân hàng MSB mang tên Lò Văn H
  • -01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Lò Văn H
  • -01 căn cước công dân số [...] mang tên Lò Văn H.

Tại bản kết luận giám định số: 800/KLGÐ -KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K, Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói ni lông(bên ngoài quấn giấy bạc) là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,290 gam.

Về vật chứng: Đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra Lường Văn T, Lò Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 16/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội truy tố các bị cáo Lường Văn Thủy và Lò Văn Hội về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy" (theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố cac bị cáo Lường Văn T và Lò Văn H về tội danh, điều luật như cáo trạng đã nêu. Đề nghị HĐXX áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38 - BLHS;

Xử phạt bị cáo Lường Văn T từ 15 đến 18 tháng tù; Lò Văn H từ 18 đến 21 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024; Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về tang vật, vật chứng : Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng KTHS – Công an t.p Hà Nội, bên ngoài có chữ ký họ tên của Lường Văn T, Lò Văn H; CB Công an t.x S: Nguyễn Đức C1; Đ/C Vũ Việt C2 - Giám định viên Phòng K C3.p Hà Nội. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 17/4/2024.

Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước : -01xe máy kiều dáng HONDA Wave, màu sơn xanh, BKS: 29T4-4172, số khung YX110☆20011411✩, số máy : VTTJL1P52FMH-P000703( đã cũ). Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 17/4/2024.

Hoàn trả cho bị cáo Lò Văn H: -01 điện thoại Mastel vỏ màu đen, số Imei: 359372101699213 (đã cũ) ; -01 thẻ VISA ngân hàng MSB mang tên Lò Văn H ; -01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Lò Văn H ; -01 căn cước công dân số [...] mang tên Lò Văn H. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 17/4/2024.

Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bà NguyễnMinh Thu - Trợ giúp viên pháp, Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 1, Thuộc Trung tâm T3, t.p Hà Nội ; Có quan điểm các bị cáo đều là người dân tộc sống vùng khó khăn, hẻo lánh và lạc hậu; Bị cáo T phạm tội lần đầu; Các bị cáo chưa có tiền án tiền sự . Đề nghị HĐXX giảm mức án thấp nhất cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, Kiêm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo Lường Văn T và Lò Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã nêu. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt quả tang, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 14/01/2024, tại trước cửa siêu thị W thuộc thôn Đ, xã C, thị xã S, Công an xã C kiểm tra hành chính đối với bị cáo Lường Văn T và Lò Văn H phát hiện và bắt quả tang hành vi phạm tội của các bị cáo và thu giữ vật chứng gồm:

  • -01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa 01 gói nilong trong suốt có kích thước 1cm x1,5 cm viền mép màu xanh đựng chất bột màu trắng(T khai là ma túy vừa mua được với giá 300.000 đồng do H và T góp tiền mua để sử dụng)
  • -01xe máy kiều dáng HONDA Wave, màu sơn xanh, BKS: 29T4-4172, số khung YX110✩ 20011411✩, số máy : VTTJL1P52FMH-P000703( đã cũ).
  • -01 điện thoại Mastel vỏ màu đen, số Imei: 359372101699213 (đã cũ)
  • -01 thẻ VISA ngân hàng MSB mang tên Lò Văn H
  • -01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Lò Văn H
  • -01 căn cước công dân số [...] mang tên Lò Văn H.

Trong quá trình điều tra các bị cáo Lường Văn T và Lò Văn H khai: Bị cáo Lường Văn T rủ Lò Văn H góp tiền mua ma túy Herroine về cùng sử dụng. Bị cáo Hội đồng Ý, sau đó bị cáo H mượn xe máy BKS:29T4-4172 của một người tên là L là chủ thợ cốt pha để chở bị cáo Lường Văn T đi mua ma túy, bị cáo T có 200.000 đồng và bảo bị cáo H góp 100.000 đồng, do bị cáo H không có tiền nên hỏi vay Lường Văn H1 là em trai của bị cáo Lường Văn T số tiền 100.000 đồng, H1 không có tiền mặt nên đã chuyển khoản cho H vay số tiền 100.000 đồng. Khi có tiền bị cáo H chở bị cáo T đi lên khu vực thị xã S để tìm mua ma túy, khi đi đến cây rút tiền của Ngân hàng V2 trên phố C, phường S thì bị cáo H vào rút tiền đưa cho bị cáo T 100.000 đồng và điều khiển xe máy đến khu vực bến xe S, thị xã S, đến một ngõ nhỏ, bị cáo T bảo bị cáo H đứng ngoài đợi, còn T đi vào trong ngõ gặp một người nam giới không quen biết khoảng 40 tuổi mua được 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Mua được ma túy bị cáo Thủy cầm trên tay trái rồi quay lại chỗ bị cáo H đang đứng đợi và cùng nhau đi tìm nơi sử dụng ma túy, khi đi đến trước cửa siêu thị W thuộc thôn Đ, xã C thì bị Công an xã C kiểm tra phát hiện và bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số: 800/KLGÐ - KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K, Công an thành phố H, kết luận:

“ Chất bột màu trắng bên trong 01 gói ni lông(bên ngoài quấn giấy bạc) là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,290 gam.

Hành vi của các bị cáo Lường Văn T và Lò Văn H đã tàng trữ trái phép chất ma túy là heroin, đã cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội đã truy tố bị cáo theo tội danh trên theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo không những xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về việc quản lý chất ma túy mà còn là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Ma túy là độc dược, gây tổn hại sức khỏe con người, suy kiệt giống nòi, suy kiệt kinh tế đối với người sử dụng.

Việc tàng trữ ma túy heroin để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, do vậy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống với thời gian nhất định đối với các bị cáo như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ, toàn diện, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo. Trong vụ án này có hai bị cáo cùng tham gia có tính đồng phạm, mang tính bột phát, phạm tội không có tổ chức, không có sự chuẩn bị công cụ phương tiện. Do vậy cần phải đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp. Bị cáo Lường Văn T và Lò Văn H đều nghiện ma túy, khi thực hiện phạm tội các bị cáo đều có sự thống nhất cao cùng phạm tội. Nên vai trò của hai bị cáo là ngang nhau.

Về các tình tiết tăng nặng: Không có;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Cả hai bị cáo đều là người dân tộc Thái, thuộc dân tộc thiểu số, đồng thời bị cáo tuổi đời còn trẻ, sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51- BLHS năm 2015;

Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, do vậy: Áp dụng Điều 38- BLHS năm 2015. Buộc các bị cáo T và Hội phải cách ly xã hội một thời gian nhất định thì có đủ điều kiện cải tạo và giáo dục các bị cáo cũng như công tác phòng ngừa tội phạm.

Ngoài hình phạt chính, Khoản 5 Điều 249 - BLHS, còn quy định hình phạt bổ sung đối với người phạm tội từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng. Xét thấy các bị cáo là lao động chính trong gia đình; Là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình khó khăn . Nên Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về nguồn gốc số ma tuý và người đàn ông bán ma túy cho bị cáo T ngày 14/01/2024, tại khu vực bến xe thị xã S. Do bị cáo T mới gặp người này lần đầu, không rõ tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh. Nên HĐXX không xét.

Đối với anh Lường Văn H1 cho bị cáo Lò Văn H vay 100.000 đồng, sau đó bị cáo H đi mua ma túy cùng với bị cáo T, anh H1 không biết bị cáo H hỏi vay tiền để mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý đối với Lường Văn H1. Nên HĐXX không xét.

Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Honda Wave, màu sơn xanh, BKS: 29T4-4172, số khung: YX11020011411, số máy: VTTJL1P52FMH-P000703, bị cáo Lò Văn H trình bày bị cáo Hội mượn của một người tên L nhà ở Phú Thọ cùng làm tại công trường xây dựng, Cơ quan CSĐT Công an T đã xác minh tại Công an xã Y, huyện T trả lời đến nay không xác định được người này. Quá trình điều tra xác định xe thành 03 bộ phận gồm biển số, khung xe, máy nêu trên ghép,máy xe của 03 xe khác nhau vào thành 01 xe; Cơ quan Điều tra đã xác minh cụ thể tại các BL 145 đến 152 thì có 01 chủ bộ phận xe nói đã bán cho sắt vụn, còn 02 chủ bộ phận xe còn lại không có địa chỉ. Nay không có căn cứ xác định chiếc xe này bị cáo Hội mượn của ai. HĐXX có đủ căn cứ tịch thu sung công quỹ Nhà Nước.

* Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng KTHS – Công an t.p Hà Nội, bên ngoài có chữ ký họ tên của Lường Văn T, Lò Văn H; CB Công an t.x S: Nguyễn Đức C1; Đ/C Vũ Việt C2 - Giám định viên Phòng K C3.p Hà Nội. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 17/4/2024.

Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước : -01xe máy kiều dáng HONDA Wave, màu sơn xanh, BKS: 29T4-4172, số khung YX110✩ 20011411✩, số máy : VTTJL1P52FMH-P000703( đã cũ). Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 17/4/2024.

Hoàn trả cho bị cáo Lò Văn H : -01 điện thoại Mastel vỏ màu đen, số Imei: 359372101699213 (đã cũ ; -01 thẻ VISA ngân hàng MSB mang tên Lò Văn H ; -01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Lò Văn H ; -01 căn cước công dân số [...] mang tên Lò Văn H.Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 17/4/2024.

Về án phí: Các bị cáo Lường Văn T và Lò Văn H là dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn . Nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo Điểm đ Khoản 1 Điều 12- Nghị quyết 326/2016, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 - BLHS năm 2015 - Sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn T và Lò Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  • Xử phạt bị cáo Lò Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 329 – BLTTHS 2015 tiếp tục t'm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  • * Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng KTHS – Công an t.p Hà Nội, bên ngoài có chữ ký họ tên của Lường Văn T, Lò Văn H; CB Công an t.x S: Nguyễn Đức C1; Đ/C Vũ Việt C2 - Giám định viên Phòng K C3.p Hà Nội. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 17/4/2024.

Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước : -01xe máy kiều dáng HONDA Wave, màu sơn xanh, BKS: 29T4-4172, số khung YX110✩ 20011411✩, số máy : VTTJL1P52FMH-P000703( đã cũ). Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 17/4/2024.

Hoàn trả cho bị cáo Lò Văn H : -01 điện thoại Mastel vỏ màu đen, số Imei: 359372101699213 (đã cũ ; -01 thẻ VISA ngân hàng MSB mang tên Lò Văn H ; -01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Lò Văn H ; -01 căn cước công dân số [...] mang tên Lò Văn H. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 17/4/2024.

* Án phí: Áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12- Nghị quyết 326/2016, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn T và Lò Văn H.

* Quyền kháng cáo: Án hình sự sơ thẩm xét xử công khai. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo phần quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.

Nơi nhận

  • - TAND Thành phố Hµ Néi.
  • - VKSND t.x Sơn Tây.
  • - Công an t.x Sơn Tây.
  • - THADS t.x Sơn Tây.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Lu HS, VP

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Lã Hùng Cường

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HSST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Lường Văn T và bị cáo Lò Văn H tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger