Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HSST

Ngày: 14/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN- TỈNH THANH HOÁ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lường Thị Phượng;

Bà Trịnh Thị Cúc

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Khánh Linh – Thư ký tòa án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu T – Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá và điểm cầu thành phần – Trụ sở Công an Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 25/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1.Đoàn Văn V – Sinh năm: 2002; Nơi ĐKHK và nơi cư trú: TDP H, phường T, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đoàn Văn T (đã chết); Con bà : Nguyễn Thị M - Sinh năm: 1977; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai ;Vợ: Trịnh Mỹ L - Sinh năm: 2002; Có 01 con sinh năm 2023 ;Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/4/2024 đến ngày 25/4/2024 chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

Có mặt tại phiên tòa.

2.Hoàng Thăng T1 – Sinh năm: 2004 ; Nơi ĐKHK và nơi cư trú: TDP B, P.T, TP S, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Hoàng Thăng M - Sinh năm: 1974; Con bà: Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1975; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con đầu;Vợ, con: Chưa;Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/6/2021 bị Công an thành phố S xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác và Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”. Ngày 22/6/2021 đã nộp xong tiền phạt. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/4/2024 đến ngày 25/4/2024 chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lương Ngọc G, sinh năm: 2002. “Vắng mặt”

Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa.

(anh Lương Ngọc G có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 45 phút ngày 16/4/2024, tại tổ dân phố A, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Tổ tuần tra Công an thành phố S trên đường làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang các đối tượng Đoàn Văn V ở tổ dân phố H, phường T, thành phố S và Hoàng Thăng Thắng tổ dân phố B, phường T, thành phố S đang bán trái phép chất ma túy cho Lương Ngọc G ở tổ dân phố A, phường Q, thành phố S. Thu giữ trong bàn tay phải Việt 01 túi nilon màu trắng viền đỏ kích thước 3 x 4cm bên trong chứa lá, hạt, cành khô (dạng thảo mộc), niêm phong (ký hiệu M1); thu trên tay phải của G 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 6S. Thu giữ trên tay phải của T1 01 điện thoại di động Iphone 11, 01 xe mô tô Honda DreamII biển kiểm soát 36F1-2549.

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà Đoàn Văn V, ở tổ dân phố H, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Thu giữ tại ngăn kéo giường trong phòng ngủ 01 cân tiểu ly, trên cân có bám dính cành, lá (dạng thảo mộc khô) được thu giữ vào túi nilon, kích thước 6 x 10cm, niêm phong (ký hiệu KX1).

Khám xét khẩn cấp tại nhà Hoàng Thăng T1, ở tổ dân phố B, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Thu giữ tại ngăn tủ bàn trong phòng ngủ 08 túi nilon viền đỏ, kích thước 3 x 5cm bên trong đều chứa cành, lá, hoa (dạng thảo mộc khô), niêm phong (ký hiệu N1).

Thu giữ 01 điện thoại Iphone 6S của V tại cửa hàng điện thoại “Tiến Đạt S” số 304 N, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa do Đàm Anh T2 là chủ, V đem đến sửa do điện thoại hỏng.

Kết luận giám định số 1652 /KL-KTHS ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

- Lá, hạt, cành khô dạng thảo mộc của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là Cần sa, có tổng khối lượng 1,211g;

- Cành, lá dạng thảo mộc khô của phong bì niêm phong ký hiệu KX1 gửi giám định là Cần sa, có tổng khối lượng 0,102g;

- Cành, lá, hoa dạng thảo mộc khô của phong bì niêm phong ký hiệu N1 gửi giám định là Cần sa, có tổng khối lượng 12,418g.

Công văn số 376/PC09 ngày 15/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T trả lời: Cần sa là chất ma túy được quy định tại thứ tự số 1, danh mục ID Nghị định số 57/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận:

Ngày 13 tháng 4 năm 2024, Đoàn Văn V, Hoàng Thăng T1 bàn bạc thống nhất góp mỗi người 350.000 đồng để mua ma túy loại “Cần sa” về chia nhỏ bán kiếm lời. Sau đó, V dùng điện thoại liên lạc qua ứng dụng Telegram mua 01 gói “Cần sa” với giá 700.000 đồng của người có tên tài khoản T3 “Lão hứa” với hình thức chuyển hàng và trả tiền trực tiếp.

Chiều ngày 15/4/2024, V đang ở nhà thì có 01 thanh niên đến giao hàng, V trả 700.000 đồng tiền hàng và 30.000 đồng tiền công. Nhận được hàng, V bóc đơn hàng ghi trên gói hàng đem đi đốt, mang hàng là ma túy vào nhà cất dấu. Đến khoảng 22 giờ 00 cùng ngày, V gọi T1 đến nhà rồi cùng ra khu vực bên cạnh bếp dùng cân tiểu ly chia được 10 túi nhỏ ma túy, T1 giữ 08 gói để bán, V giữ 02 gói, thống nhất giá bán 200.000 đồng/túi. Sau đó, V sử dụng 01 túi, còn 01 túi cất giữ.

Khoảng 16 giờ 00 ngày 16/4/2024, V đang ở nhà thì G sử dụng tài khoản Facebook “Lê Khắc H1” gọi đến tài khoản Facebook “Đoàn Văn V” hỏi mua 01 túi “Cần sa”. V đồng ý, nói giá 200.000 đồng, thống nhất địa điểm giao ma túy ở khu vực cầu “B" thuộc tổ dân phố A, phường Q, thành phố S. Sau đó, V nhắn tin cho T1 đến để đi bán ma túy cùng, T1 đồng ý, điều khiển xe mô tô DreamII biển kiểm soát 36F1-2549 đến, chở V ngồi sau. Đến nơi hẹn, chưa thấy G nên V lấy điện thoại của T1 gọi, lúc này, G đến đứng trên vỉa hè thì V, T1 cùng đi lại. V cầm ma túy đưa cho G nhưng G chưa kịp nhận thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ .

Căn cứ lời khai của Đoàn Văn V về người đàn ông có tài khoản Telegram “Lão hứa” đã bán cho V ma túy loại “Cần sa” với số tiền 700.000 đồng và người giao số ma túy này cho V và nhận được 30.000 đồng tiền công. Do V không biết nhân thân, lai lịch của hai người này và đơn hàng ghi trên gói hàng Việt đã đem đốt. Cơ quan điều tra không xác minh được nhân thân, lai lịch của hai người trên. Việc V mua mà túy của người đàn ông có tên là “Lão hứa” và việc nhận hàng ma túy không có ai chứng kiến, cũng không có tài liệu nào chứng minh nên không có căn cứ để xác minh xử lý.

Đối với Lương Ngọc G là người hỏi mua ma túy để sử dụng một mình nhưng khi đang giao dịch, chưa nhận được ma túy thì bị Công an thành phố S phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, không đủ căn cứ xử lý về mặt hình sự đối với Lương Ngọc G.

Vật chứng thu giữ: 02 phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T (vật chứng còn lại sau giám định); 200.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 6S màu hồng của Lương Ngọc G; 01 điện thoại Iphone 11 màu tím của Hoàng Thăng T1; 01 điện thoại di động Iphone 6S màu bạc, 01 cân tiểu ly màu bạc của Đoàn Văn V đang tạm giữ tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát 36F1-2549. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là của ông Hoàng Thăng M1 (bố Hoàng Thăng T1), ông M1 không biết việc T1 sử dụng xe đi bán ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu.

Tại bản Cáo trạng số 45/CTr-VKS ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn truy tố bị cáo Đoàn Văn V và Hoàng Thăng T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định số ma túy trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Văn V từ 36 tháng đến 42 tháng tù, Hoàng Thăng T1 mức hình phạt từ năm 30 tháng đến 36 tháng tù .

Về tang vật: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và xử lý các vật chứng khác theo quy định; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã vắng mặt và anh G có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt anh Lương Ngọc G

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận:

Vào hồi 16 giờ 45 phút ngày 16/4/2024, tại tổ dân phố A, phường Q,Thành phố S. Tổ tuần tra Công an Thành phố S làm nhiệm vụ đã kiểm tra và bắt quả tang Đoàn Văn V và Hoàng Thăng T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 1,211g loại Cần sa với mục đích bán cho Lương Ngọc G với giá 200.000 đồng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đoàn Văn V, Cơ quan điều tra thu được cành, lá (dạng thảo mộc khô) có khối lượng 0,102g loại Cần sa. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Thăng T1, Cơ quan điều tra thu được 08 túi nilong bên trong đều chứa cành, lá, hoa (dạng thảo mộc khô) có tổng khối lượng 12,418g loại cần sa. Tổng khối lượng ma túy mà V và T1 đã tàng trữ là 13,749g loại cần sa, theo lời khai và sự thừa nhận của các bị cáo đây là số ma túy các bị cáo cất giấu với mục đích để bán kiếm lời.

Vì vậy hành vi của các các bị cáo Đoàn Văn V và Hoàng Thăng T1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS như Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án: Vụ án xảy ra là rất nghiêm trọng, bởi lẽ ma tuý là hiểm hoạ của cả nhân loại và của mỗi một gia đình, nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm phát sinh như trộm cắp, cướp của, giết người..., gây ảnh hưởng xấu trực tiếp đến trật tự xã hội. Hành vi của các bị cáo đã làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng cho nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm.

[4] Xét vị trí, vai trò đồng phạm: Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn bởi V và T1 đều thực hiện hành vi phạm tội mua bán ma túy, không có sự phân công nhiệm vụ, bàn bạc. Tuy nhiên bị cáo V là người trực tiếp liên hệ mua ma túy và chuẩn bị công cụ, phương tiện để cùng T1 chia ma túy (cần sa) thành các gói nhỏ để bán, là người liên lạc tìm khách mua ma túy nên vai trò của bị cáo V cao hơn và cần có mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo T1.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo T1 có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác và hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác” vẫn không chịu cải sửa mà còn tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật và bị cáo V mặc dù chưa có tiền án, tiền sự nhưng với tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma túy thì việc cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có điều kiện kinh tế, không có thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo .

[6] Về vật chứng: Xét số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh T, một cân tiểu ly điện tử màu bạc. Ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành, sử dụng và cân tiểu ly điện tử màu bạc đã cũ không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng đã thu giữ: chiếc điện thoại Iphone 6S màu bạc của bị cáo V và chiếc điện thoại Iphone 11 màu tím của bị cáo T1, chiếc điện thoại Iphone 6S màu hồng và số tiền 200.000đ của G. Đây là những vật chứng sử dụng vào việc mua bán ma túy và liên quan trực tiếp đến việc phạm tội. Vì vậy căn cứ vào Khoản 1, 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[7] Về án phí: Mỗi Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58; Điều 46, 47 BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn V và Hoàng Thăng T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn V 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 16/4/2024.

Bị cáo Hoàng Thăng T1 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 16/4/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đoàn Văn V và Hoàng Thăng T1.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cân tiểu ly điện tử màu bạc đã qua sử dụng và toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh T.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: chiếc điện thoại Iphone 6S màu bạc của bị cáo Đoàn Văn V, chiếc điện thoại Iphone 11 màu tím của bị cáo Hoàng Thăng T1, chiếc điện thoại Iphone 6S màu hồng và số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) của anh Lương Ngọc G.

Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Sầm Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng số 48/2024/THA ngày 24/7/2024.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .

Quyền kháng cáo: Các Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án./

Nơi nhận:

  • - VKSND, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Sầm Sơn;
  • - Công an T;
  • - Thi hành án HS, DS Thành phố S;
  • - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị L1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HSST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: áp dụng khoản 1 Đ251 BLHS, xử Đoàn Văn V 36 tháng tù, Hoàng Thăng T 30T tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger