Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HSST

Ngày: 14/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đăng Quang và ông Lê Văn Hướng.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Hoàng- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Dương Phước An- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số E đường Đ, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 31/7/2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Mậu L; sinh ngày 20/3/1966 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Mậu C (chết) và bà Nguyễn Thị T (chết); vợ: Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1971; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2007.

Quá trình nhân thân: Ngày 22/8/1998, bị Tòa án nhân dân huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 07 tháng tù giam về tội “Gây rối trật tự công cộng” (BA số 12/HS). Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 08/4/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Lê Xuân P; sinh ngày 22/7/1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Xuân Q (chết) và bà Nguyễn Thị Hồng X; vợ: Trần Thị Bảo C1, sinh năm 1994; con: có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020. Tiền án: 01 tiền án. Ngày 02/8/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. (Bản án số 173/2022/HSST). Bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ

thẩm và tiền phạt của bản án nêu trên trên vào ngày 09/8/2024; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 08/4/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng:

  1. Ông Lê Văn H, sinh năm 1962; địa chỉ: Số E N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1981; địa chỉ: Số B T, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  3. Bà Trần Thị Thu Đ, sinh năm 1980; địa chỉ: Số A đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  4. Anh Nguyễn Tường L1, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  5. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  6. Chị Ngô Thị T2, sinh năm 1991; địa chỉ: Số B T, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  7. Anh Mai Bá Chí H1, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 03/02/2024, Trần Mậu L tổ chức tiệc tất niên cuối năm ở nhà của mình tại địa chỉ Tổ dân phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lúc này, trong nhà có L, Lê Văn H, Trần Thị Thu Đ và Ngô Thị T2 đang ngồi chơi. Đến khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, Nguyễn Tường L1 đến nhà thì L rủ mọi người lên tầng 02 đánh bài Phỏm. Sau đó, Nguyễn Văn T1 cũng đến và lên tầng 02, L liền đi lấy chăn vải ra trải làm chiếu bạc và lấy 02 bộ bài T3 lơ khơ có sẵn do L mua từ trước để T2, T1, L1 và Đ lập thành 01 chiếu bạc cùng nhau đánh phỏm được thua bằng tiền. Một lúc sau có thêm Mai Bá Chí H1, Lê Xuân P và Nguyễn Thị B đến nhà L để đánh bạc. Lê Văn H cùng với B, P, H1 tiếp tục lập thêm 01 chiếu bạc cùng nhau đánh phỏm được thua bằng tiền tại tầng 02 nhà của L.

Về hình thức đánh phỏm: Sử dụng bộ bài T3-lơ-khơ 52 lá, chia đều cho 04 người chơi, mỗi người được 09 lá bài, người làm cái được chia thêm 01 lá bài và là người đánh lá bài (gà) đầu tiên. Chỉ có một người thắng trong một ván bài, người có số điểm thấp nhất thì thắng được số tiền 60.000 đồng, người thứ hai phải trả cho người thắng số tiền 10.000 đồng; người thứ ba phải trả cho người thắng số tiền 20.000 đồng, người thua cuối cùng phải trả cho người thắng số tiền 30.000 đồng; người không có phỏm tức là bài “Cháy” thua số tiền 40.000 đồng; Nếu người nào bài có ba phỏm tức là bài “Ù” thì thắng số tiền 150.000 đồng và những người còn lại thua số tiền mỗi người là 50.000 đồng. Cả nhóm thống nhất ăn gà thì được 10.000 đồng, ăn gà chốt thì

được 40.000 đồng và mỗi ván ù sẽ thu xâu 10.000 đồng. Số tiền thu xâu này sẽ được gửi lại cho L là người tổ chức cho các đối tượng chơi bài. Sau khi thỏa thuận xong, cả 02 nhóm cùng nhau đánh bạc.

Khoảng 16 giờ 20 phút 03/02/2024, Công an phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế kiểm tra tại nhà của Trần Mậu L thì phát hiện L đang tổ chức 02 chiếu bạc nói trên nên lập biên bản kiểm tra hành chính. Quá trình Công an kiểm tra thì Mai Bá Chí H1, Ngô Thị T2 và Nguyễn Văn T1 bỏ chạy khỏi nhà của L.

Thu giữ tại chiếu bạc thứ nhất (gồm Trần Thị Thu Đ, Nguyễn Tường L1, Nguyễn Văn T1 và Ngô Thị T2) có: 01 bộ bài T3-lơ-khơ 52 lá; 1.190.000 đồng, 30.000 đồng tiền xâu; 01 cái ly dùng để bỏ xâu, 01 cái chăn vải; 01 điện thoại di động hiệu OPPO. Thu giữ trên người của Trần Thị Thu Đ số tiền 200.000 đồng, thu giữ trên người của Nguyễn Tường L1 số tiền 129.000 đồng các đối tượng khai số tiền trên dùng để đánh bạc. Như vậy, tổng tang số đánh bạc tại chiếu bạc thứ nhất là 1.549.000 đồng.

Thu giữ tại chiếu bạc thứ hai (gồm Lê Xuân P, Lê Văn H, Nguyễn Thị B và Mai Bá Chí H1) có: 01 bộ bài T3-lơ-khơ 52 lá; 3.660.000 đồng, 120.000 đồng tiền xâu, 01 cái ly dùng để bỏ xâu, 01 cái chăn vải, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11; 01 điện thoại Iphone 6. Thu giữ trên người của Lê Xuân P số tiền 270.000 đồng, thu giữ trên người của Lê Văn H số tiền 500.000 đồng, các đối tượng khai số tiền trên dùng để đánh bạc. Như vậy, tổng tang số đánh bạc tại chiếu bạc thứ hai là 4.550.000 đồng.

Trần Mậu L tổ chức 02 chiếu bạc cho 08 đối tượng đánh bạc bằng hình thức đánh bài Phỏm được thua bằng tiền. Tổng số tiền dùng đánh bạc của 02 chiếu bạc được xác định được là 6.099.000 đồng. T4 lợi bất chính số tiền 150.000 đồng (tiền xâu).

Lê Xuân P đang có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích, tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 4.550.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

02 bộ bài tú lơ khơ 104 lá đã qua sử dụng; 02 cái chăn vải; 02 cái ly; 01 điện thoại di dộng Iphone 11 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di dộng Iphone 6 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng; 06 căn cước công dân mang tên Lê Xuân P,Lê Văn H,Mai Bá Chí H1,Nguyễn Tường L1,Nguyễn Văn T1,Ngô Thị T2; Tiền Ngân hàng N: 6.099.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Ngày 26/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại các căn cước công dân mang tên Lê Xuân P, Lê Văn H, Nguyễn Thị B, Mai Bá Chí H1, Nguyễn Tường L1, Nguyễn Văn T1, Ngô Thị T2 cho các chủ sở hữu.

Trả lại cho Mai Bá Chí H1 01 điện thoại Iphone 11, trả lại cho Nguyễn Thị B 01 điện thoại Iphone 6 và trả lại cho Nguyễn Tường L1 01 điện thoại OPPO.

Đối với: 02 bộ bài tú lơ khơ 104 lá; 02 cái chăn vải; 02 cái ly; tiền Ngân hàng N: 6.099.000 đồng, đang tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Trần Mậu L, Lê Xuân P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 37/CT-VKSHTr ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố bị cáo Trần Trần Mậu L về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Xuân P về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; Điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Trần Mậu L từ 08 tháng đến 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 tháng đến 22 tháng.
  • Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Lê Xuân P từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 02 bộ bài tú lơ khơ 104 lá; 02 cái chăn vải; 02 cái ly; Sung ngân sách Nhà nước: số tiền 6.099.000 đồng.

Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo thủ tục chung.

[2] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Trần Mậu L, Lê Xuân P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời

khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận:

Vào lúc 16 giờ 20 ngày 03/02/2024, Trần Mậu L đã sử dụng địa điểm nhà của mình tại Tổ dân phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, đồng thời chuẩn bị 02 bộ bài Tú lơ khơ để tổ chức 02 chiếu bạc cho 08 đối tượng gồm Lê Xuân P, Lê Văn H, Nguyễn Thị B1, Mai Bá Chí H1,Trần Thị Thu Đ, Nguyễn Tường L1, Nguyễn Văn T1 và Ngô Thị T2 đánh bạc bằng hình thức đánh bài Phỏm được thua bằng tiền, tổng số tiền dùng đánh bạc của 02 chiếu bạc là 6.099.000 đồng nên hành vi này của Trần Mậu L đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Đối với Lê Xuân P đã có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích, lại tiếp tục có hành vi “Đánh bạc” nên đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với bị cáo Trần Mậu L về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Xuân P về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo đều không phạm vào tình tiết tăng nặng nào.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Trần Mậu L là thương binh loại B, thương tật hạng 43% nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt:

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền và tổ chức đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thu lợi bất chính, hành vi này đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ nên cần phải xử nghiêm.

Đối với bị cáo Trần Mậu L khi phạm tội không phạm vào tình tiết tăng nặng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân lao động tự do không có thu nhập ổn định, đang ở với cùng gia đình, nuôi con ăn học, tuổi đã lớn (gần 60 tuổi) và là thương binh nên không có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, đồng thời Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Lê Xuân P: Ngày 02/8/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Trong thời gian chưa được xoá án tích, bị

cáo tiếp tục có hành vi đánh bạc trái phép là thể hiện sự xem thường pháp luật và nhân thân xấu nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Lê Xuân P phạm tội đánh bạc khi chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung đối với tội đánh bạc đã bị xét xử trước đây là thể hiện sự nguy hiểm và xem thường pháp luật, vì vậy cần phải xử nghiêm, áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng, thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là 10.000.000 đồng.

Ngày 09/8/2024, bị cáo P giao nộp biên lai nộp tiền gồm 10.200.000 đồng, đây là số tiền phạt bổ sung (10.000.000 đồng) và án phí hình sự (200.000 đồng) mà bị cáo phải chịu theo Bản án số 173/2022/HSST. Như vậy có cơ sở xác định bị cáo đã chấp hành xong bản án nên Hội đồng xét xử không tổng hợp hình phạt theo quy định.

[7] Đối với hành vi của Lê Văn H, Nguyễn Thị B, Mai Bá Chí H1, Trần Thị Thu Đ, Nguyễn Tường L1, Nguyễn Văn T1 và Ngô Thị T2 cùng tham gia đánh bạc nhưng số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và không ai có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với những người này là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với số tiền 6.099.000 đồng là số tiền dùng vào mục đích đánh bạc, là công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 02 bộ bài T3 lơ khơ 104 lá; 02 cái chăn vải; 02 cái ly là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại Iphone 11; 01 điện thoại Iphone 6; 01 điện thoại OPPO là vật không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã trả lại cho các chủ sở hữu là đúng pháp luật, tại phiên tòa không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 322; khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Mậu L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Bị cáo Lê Xuân P phạm tội “Đánh bạc”.

1.1 Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 322; Điều 65; Điểm s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Trần Mậu L 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Mậu L cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Mậu L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Mậu L phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

1.2 Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Xuân P 10.000.000 đồng.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên bố:

- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: số tiền 6.099.000 đồng;

(Số tiền này được Cơ quan điều tra nộp vào tài khoản của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, theo ủy nhiệm chi ngày 10/7/2024 của Kho bạc Nhà nước thị xã H).

- Tịch thu tiêu huỷ: 02 bộ bài tú lơ khơ 104 lá; 02 cái chăn vải; 02 cái ly.

(Vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/07/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Trần Mậu L, Lê Xuân P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT.Huế;
  • - VKSND tỉnh TT.Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TT.Huế;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh TT.Huế;
  • - Công an thị xã Hương Trà;
  • - VKSND thị xã Hương Trà;
  • - THA HS, THA DS;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HSST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 38/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger