Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỘI AN

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số:38/2024/HS-ST

Ngày 14/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự Do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN - TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quang

Ông Lê Tấn Hoành

Thư ký phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Tuấn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 02/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 26/7/2024, đối với:

- Bị cáo: Huỳnh Trương P, sinh ngày 02/5/1999, tại Hội An Q; nơi cư trú: Tổ A, khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Tấn Đ và bà Nguyễn Thị N (Đ1); bị cáo là con út trong gia đình có 04 anh chị em, chưa có vợ, con.

Tiền án: Ngày 18/12/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong hình phạt ngày 03/3/2022), chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Ngày 30/3/2023, bị Công an phường C, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Nhân thân: Ngày 17/01/2014, bị Công an phường C, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 400.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 17/11/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Hội An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 01/6/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 02 năm 09 tháng tù về các tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/3/2024 đến ngày 02/4/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay. Có mặt

- Bị hại: Ông Huỳnh Tấn P1, sinh năm: 1987; Nơi cư trú: tổ A, khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đặng Hồng T, sinh năm: 2000; Nơi cư trú: tổ A, khối V, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).
  2. Ông Thái Mạnh L, sinh năm: 1997; Nơi cư trú: tổ F, khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).
  3. Ông Nguyễn Đình Y, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: khối B, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).
  4. Bà Phạm Thị L1, sinh năm: 1967; Nơi cư trú: A T, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).
  5. Bà Nguyễn Thị Thảo T1, sinh năm: 1997; Nơi cư trú: khối M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong các ngày 08/5/2023 và 09/5/2023, trên địa bàn phường C, thành phố H, bị cáo Huỳnh Trương P đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 15h30 ngày 08/5/2023, Huỳnh Trương P đang ở nhà một mình thì nhìn qua nhà anh Huỳnh Tấn P1 thấy phía trước và sau nhà để nhiều vật liệu sắt nhưng không có ai ở nhà, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đến khoảng 16h00 cùng ngày, Đặng Hồng T đến nhà P chơi, nên P rủ T qua nhà anh P1 trộm cắp sắt bán lấy tiền tiêu xài, thì T đồng ý. Sau đó, P và T đi vào khu vực nhà anh P1 thông qua lối đi phía sau của nhà P. Lúc này, P phát hiện 01 cây sắt dài 3m dạng hình hộp chữ nhật kích thước (5 x 10) cm đang ở phía bên phải trên nền gần nhà vệ sinh, P lấy cây sắt này đưa cho T mang ra ngoài. Sau đó, P đóng lại cổng ngõ rồi quay về lại nhà lấy xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo màu đỏ-đen, biển kiểm soát (BKS) 43F1-389.15, P điều khiển xe mô tô chở T ngồi sau mang theo cây sắt trộm được đến bán cho anh Thái Mạnh L2 với giá 85.000 đồng. Số tiền này P và T tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ hai: Vào ngày 09/5/2023, Đặng Hồng T đến nhà Huỳnh Trương Phi c thì P tiếp tục rủ T qua nhà anh Huỳnh Tấn P1 trộm cắp sắt bán lấy tiền tiêu xài, thì T đồng ý. Cả hai tiếp tục vào nhà anh P1 thông qua lối đi cửa sau nhà P để lấy 01 cây sắt dài 6m dạng hình chữ V. Sau đó, P về nhà lấy xe mô tô BKS: 43F1-389.15 điều khiển chở T ngồi sau mang theo cây sắt trộm được đến bán cho cửa hành buôn bán sắt H với giá 105.000 đồng. Số tiền này P và T tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi làm việc với Công an phường C thì Huỳnh Trương Phi bỏ trốn, sau đó bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định truy nã và bắt lại vào ngày 30/3/2024.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 45/KL-ĐGTS ngày 30/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H thì 01 cây sắt dài 3m dạng hình hộp chữ nhật kích thước (5 x 10)cm, mạ kẽm, độ dày 1,2mm tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 180.000 đồng; 01 cây sắt dài 6m dạng hình chữ V không mạ kẽm, kích thước chữ V là 05cm, độ dày 3mm tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 330.000 đồng. Tổng tài sản bị chiếm đoạt là 510.000 đồng .

Tại Cáo trạng số 34/CT-VKSHA ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An truy tố bị cáo Huỳnh Trương P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trương P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Trương P từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án 01 USB màu trắng xanh hiệu ADATA C008/8G sao lưu hình ảnh trích xuất từ camera nhà anh P1 thể hiện 02 đối tượng trộm cắp tài sản vào hai ngày 08/5/2023 và 09/5/2023. Truy thu của bị cáo Huỳnh Trương P và ông Đặng Hồng T số tiền 190.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không đề nghị xem xét.

Bị cáo Huỳnh Trương P thống nhất với nội dung cáo trạng, thừa nhận hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, rất ăn năn hối lỗi; đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Trương P khai nhận: Ngày 08/5/2023 và 09/5/2023, bị cáo Huỳnh Trương P cùng Đặng Hồng T cùng nhau bàn bạc thực hiện hành vi trộm cắp; bị cáo và T đã lợi dụng sự sơ hở đột nhập vào nhà anh Huỳnh Tấn P1 02 lần trộm tài sản là: 01 cây sắt dài 3m dạng hình hộp chữ nhật kích thước (5 x 10) cm; 01 cây sắt dài 6m dạng hình chữ V, kích thước chữ V là 05cm bán với giá 190.000 đồng. Theo kết luận định giá tổng tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án này là 510.000 đồng. Mặc dù, giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo Huỳnh Trương P phạm tội thuộc thuộc trường hợp đã bị kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do đó, hành vi của Huỳnh Trương P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáothì thấy: Tội phạm mà bị cáo gây ra xâm phạm tài sản của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Bị cáo Huỳnh Trương P đã nhận thức được rằng việc chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Trong vụ án này, bị cáo là người khởi xướng cùng với ông Đặng Hồng T thực hiện hành vi và cùng nhau tiêu thụ tài sản.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Huỳnh Trương P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo có cha ruột là người có công với cách mạng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bị cáo có nhân thân không tốt đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội "Trộm cắp tài sản" và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân; trong vụ án này bị cáo lại liên tiếp 2 lần thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự khi lượng hình đối với bị cáo mà cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án 01 USB màu trắng xanh hiệu ADATA C008/8G sao lưu hình ảnh trích xuất từ camera nhà anh P1 thể hiện 02 đối tượng trộm cắp tài sản vào hai ngày 08/5/2023 và 09/5/2023. Cần truy thu của bị cáo Huỳnh Trương P và Đặng Hồng T số tiền 190.000 đồng từ việc tiêu thụ tài sản trộm cắp mà có.

[8] Về các vấn đề khác có liên quan:

  • - Ngày 30/6/2023, Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Đặng Hồng T về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa cấu thành tội phạm là có căn cứ.
  • - Đối với Nguyễn Đình Y mua xe mô tô BKS: 43F1 – 389.15, sau đó bán xe này cho một người không rõ lai lịch, thời điểm mua không biết xe này là phương tiện phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố H không đề cập xử lý và Cơ quan CSĐT Công an thành phố H chưa thu hồi xe mô tô này, đồng thời qua tra cứu thì xe mô tô BKS: 43F1-389.15 không phải là vật chứng trong các vụ án nên không đề cập xử lý.
  • - Đối với ông Thái Mạnh L và bà Phạm Thị L1 đã mua tài sản do bị cáo phạm tội nhưng không biết là tài sản trộm cắp nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố H nên không có cơ sở xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Trương P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Trương P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/3/2024

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Lưu kèm hồ sơ vụ án 01 USB màu trắng xanh hiệu ADATA C008/8G sao lưu hình ảnh trích xuất từ camera nhà anh P1 thể hiện 02 đối tượng trộm cắp tài sản vào hai ngày 08/5/2023 và 09/5/2023.

Truy thu của bị cáo Huỳnh Trương P và Đặng Hồng T số tiền 190.000 đồng (một trăm chín mươi nghìn đồng).

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Trương P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND thành phố Hội An;
  • - Công an thành phố Hội An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Cục THA tỉnh Quảng Nam;
  • - Chi cục THA DS thành phố Hội An;
  • - Thành phần tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, án văn, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN - TỈNH QUẢNG NAM về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN - TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger