Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 38/2024/HSST

Ngày 14/8/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lường Thị Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Tiến Thanh

Ông Mai Đình Quế

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Mỹ Dung - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với:

1. Bị cáo: Nguyễn Đình T; Sinh ngày 09/4/1983 tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Đình P (đã chết) và bà Trần Thị N; Bị cáo có vợ là Trịnh Thị H1 và có 03 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 05/6/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị cáo: Nguyễn Văn Đ; Sinh ngày 07/7/1998 tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn C và bà Ngô Thị L; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 05/6/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

3. Bị cáo: Nguyễn Văn B; Sinh ngày 10/8/1999 tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị X; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 05/6/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

4. Bị cáo: Nguyễn Văn Q; Sinh ngày 07/5/1989 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: phố G, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn C và bà Ngô Thị L; Bị cáo có vợ là Lê Thị T1 và có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 05/6/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

5. Bị cáo: Lê Công T2; Sinh ngày 25/9/1997 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Lê Công T3 con bà Trịnh Thị H2; Bị cáo có vợ Nguyễn Thị Ngọc Á, bị cáo có 02 con, lớn sinh 2021 và nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/5/2024 đến ngày 05/6/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Tổ quản lý Nghè Thọ L2

Đại diện bị hại: Ông Lê Văn H3, sinh năm 1971

Chức vụ: Bí thư thôn Phú Thọ, xã Tuy Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá

Địa chỉ: thôn Phú Thọ, xã Tuy Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21h00 ngày 23/5/2024, Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn B, Lê Công T2Nguyễn Văn Q cùng nhau ngồi uống nước tại nhà Tiếp ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Tiếp có nói chuyện với mọi người về việc trước đó khoảng 01 tháng có nhìn thấy bên hông của ngôi N1 ở thôn P, xã T, huyện H do ông Lê Văn H3 (sinh năm 1971) trông coi quản lý có một chiếc bể đá bị vỡ nhiều mảnh, nếu ghép lại để bán thì sẽ có giá trị. Do đó, T đã rủ Đ, B, QT2 đến trộm cắp mang về để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân thì tất cả đồng ý. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 24/5/2024, Q điều khiển chiếc xe ô tô biển kiểm sát 51H-677.73 chở T, Đ, BT2 đến phía trước cổng ngôi Nghè ở thôn P, xã T, huyện H. Lúc này T, Đ, BT2 xuống xe ô tô và nhìn thấy cổng ngôi Nghè đang khoá, có bóng đèn chiếu sáng, không có người trông coi nên cả nhóm đi qua tường rào vào bên trong N1 còn Q ngồi trên xe ô tô để cảnh giới cho cả nhóm vào trộm cắp tài sản. Tiếp, ĐB đi lại chỗ chiếc bể đá bị vỡ nhiều mảnh ở cạnh rìa ao trong khuôn viên ngôi N1 còn T2 đứng ở bờ tường của N1 để cảnh giới. Sau đó, T2 cùng với T, ĐB bê các mảnh vỡ của chiếc bể ra để lên cốp của xe ô tô và cùng nhau tiếp tục đi vào hè của ngôi N1 thì thấy có 02 (hai) con rùa bằng đá nên đã cùng nhau khiêng ra bỏ lên cốp xe ô tô. Sau khi trộm cắp được tài sản, Q điều khiển xe ô tô chở T, Đ, BT2 mang tài sản trộm cắp được về nhà Nguyễn Văn Đ tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cất giấu và thống nhất với nhau là khi bán được tài sản trộm cắp thì sẽ trả tiền xăng xe cho Q và chia đều cho mọi người.

Đến khoảng 07 giờ ngày 24/5/2024, anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1982, trú tại thôn L, xã T, hiện T đến nhà Đ chơi thì nhìn thấy chiếc bể đá vỡ đã trộm cắp được nên hỏi mua và Đ đã đồng ý bán với giá 280.000 đồng cho anh T4. Sau khi mua được chiếc bể đá bị vỡ của Đ xong, biết anh Nguyễn Văn L3 ở thôn L, xã T, huyện T mua tài sản trên với giá cao nên anh T4 đã bán lại chiếc bể đá bị vỡ trên cho anh L3 với giá 900.000 đồng, anh L3 mang về nhà và đã hàn gắn lại. Tuy nhiên, sau đó anh L3 biết được thông tin chiếc để đá trên là tài sản trộm cắp nên đã trả lại cho anh T4 và nhận lại số tiền 900.000đ đã mua chiếc bể đá của anh T4.

Đến khoảng 07 giờ ngày 30/5/2024, ông Lê Văn H3 đến ngôi Nghè để quét dọn và thắp hương thì phát hiện thấy chiếc bể đá bị vỡ và 02(hai) tượng rùa đã đã bị trộm cắp nên đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H báo cáo sự việc. Đến ngày 30/5/2024 và ngày 31/5/2024 Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn BLê Công T2 đã đến Cơ quan điều tra Công an huyện H đầu thú, khai báo về hành vi của mình và giao nộp lại 02 tượng rùa đã trộm cắp được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HDĐGTS ngày 04/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 02 tượng rùa làm bằng đá có đặc điểm kích thước tương tự nhau đều là cổ vật có giá trị 10.000.000₫ và 01 chiếc bể làm bằng đá, bị vỡ thành nhiều mảnh là cổ vật có giá trị 3.000.000đ. Tổng là 13.000.000đồng (Mười ba triệu đồng).

Tại Cơ quan điều tra công an huyện H, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã thu thập được.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc bể làm bằng đá hình chữ nhật(có kích thước chiều dài 105 cm, rộng 55 cm, cao 36 cm, thành bể dày 05 cm) tình trạng bể đá đã cũ, bị vỡ thành nhiều mảnh đã gắn lại; 02 tượng rùa làm bằng đá có đặc điểm kích thước tương tự nhau (cao 22,5 cm, dài 51 cm, rộng 33 cm, tượng rùa nằm trên đế phẳng, dày 05 cm, tượng rùa đã cũ, đầu rùa được phục dựng lại). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho ông Lê Văn H3 là người quản lý các tài sản trên theo quy định của pháp luật.

Đối chiếc xe ô tô biển kiểm soát 51H – 677.73 là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị Hồng G, sinh năm 1982 trú tại 5 N, phường C, quận B, thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Sau khi nhận lại tài sản ông Lê Văn H3 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về dân sự. Đối với anh Nguyễn Văn T4 và anh Nguyễn Văn L3, sau khi nhận lại tiền mua bán tài sản cũng không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 44/CT -VKSHL ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình Tiếp, Nguyễn Văn Quý, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn BLê Công T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với:

  • Bị cáo Nguyễn Đình T từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Bị cáo Nguyễn Văn Q; Nguyễn Văn BLê Công T2 từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp các bị cáo đã giao nộp cho Cơ quan điều tra và Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận và trong lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 24/5/2024, tại ngôi Nghè T thuộc thôn P, xã T, các bị cáo Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn BLê Công T2 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc bể làm bằng đá hình chữ nhật(có kích thước chiều dài 105 cm, rộng 55 cm, cao 36 cm, thành bể dày 05 cm) tình trạng bể đá đã cũ, bị vỡ thành nhiều mảnh đã gắn lại; 02 tượng rùa làm bằng đá có đặc điểm kích thước tương tự nhau (cao 22,5 cm, dài 51 cm, rộng 33 cm, tượng rùa nằm trên đế phẳng, dày 05 cm, tượng rùa đã cũ, đầu rùa được phục dựng lại) đều là cổ vật. Tại bản kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện H thì 01 bể làm bằng đá trị giá 3.000.000đ; 02 con rùa là bằng đá có giá trị là 10.000.000đ. Tổng giá trị của tài sản trộm cắp là 13.000.000đ (mười ba triệu đồng). Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi của Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn BLê Công T2 có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất vụ án: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, tuy nhiên Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn BLê Công T2 đã lợi dụng sự sơ hở của người có trách nhiệm trông coi, quản lý lén lút đột nhập vào Nghè với mục đích chiếm đoạt tài sản là đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Cần phải có hình phạt nghiêm đối với các bị cáo mới đủ răn đe giáo dục các bị cáo cũng như giáo dục chung cho xã hội.

Xét về vai trò của các bị cáo: Mặc dù các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không thuộc trường hợp " phạm tội có tổ chức " mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, để có hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, cũng cần phải đánh giá xem xét vai trò của từng bị cáo. Nguyễn Đình T là người rủ rê, khởi xướng và cùng các bị cáo trộm cắp tài sản nên có vị trí vai trò thứ nhất trong vụ án; Nguyễn Văn Đ là người trực tiếp trộm cắp tài sản và là người bán tài sản đã trộm cắp được nên có vị trí, vai trò thứ hai trong vụ án; Các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn BLê Công T2 là những người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên có vị trí, vai trò ngang nhau và vai trò sau cùng trong vụ án.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã đến Cơ quan điều tra để đầu thú, đã tự nguyện giao nộp tài sản đã trộm cắp được, đại diện theo theo pháp luật của người bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[3]. Về hình phạt: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi thường trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành người tốt, người có ích cho gia đình và xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo pháp luật của người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1,2 Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn BLê Công T2 phạm tội " Trộm cắp tài sản".

- Xử phạt: - Bị cáo Nguyễn Đình T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Nguyễn Văn Q 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Nguyễn Văn B 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Lê Công T2 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nguyễn Đình T; Nguyễn Văn ĐNguyễn Văn B cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Lê Công T2 cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi Nơi thường trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Đình T; Nguyễn Văn ĐNguyễn Văn B; Nguyễn Văn QLê Công T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa.
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND huyện Hậu Lộc.
  • - Công an huyện Hậu Lộc.
  • - THA hình sự huyện Hậu Lộc.
  • - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc.
  • - Các bị cáo;
  • - UBND xã Thiệu Vũ; xã Thiệu Thành; phường Quảng Hưng
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lường Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HSST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 38/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản là cổ vật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger