Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 38/2024/HS-ST

Ngày 14/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và bà Bùi Thị Thúy.

Thư ký Tòa án: Ông Vũ Hoàng Long, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc tham gia phiên tòa: Ông Trần Đình Nghị - Kiểm sát viên và bà Ngô Thị Thu H- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 và thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa đối với bị cáo:

- Đặng Quốc H1, sinh năm: 1984 tại huyện G, tỉnh Hải Dương. Trú tại: Thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn K (đã chết) và bà Bùi Thị V. Vợ Đoàn Thị L và 04 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự; nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện G (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn N- Luật sư, Văn phòng L2; địa chỉ: số C L, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên toà).

Những người tham gia tố tụng khác:

  • - Bị hại: anh Phạm Văn Quang A, sinh năm 1998 và chị Đặng Thị Hồng L1, sinh năm 2002, đều ở thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương ( có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
  • - Người làm chứng: anh Phạm An B; ông Bùi Trọng V1; bà Đào Thị V2 và ông Phạm Anh Đ (vắng mặt tại phiên tòa); chị Đoàn Thị L (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2020, vợ chồng Đặng Quốc H1 mua 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios G, màu sơn đen, số khung: RL4B23F30L5087719, số máy: 2NRX562549, đăng ký biển số: 34A - 383.86. Xe có Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 (gọi tắt là GCN số 068409), đứng tên Đặng Quốc H1, do Phòng C Công an tỉnh H cấp ngày 20/5/2020. Do làm ăn thua lỗ, nợ nần nhiều, H1 nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 để cầm cố vay tiền của bạn bè xã hội khi cần, còn giấy chứng nhận đăng ký xe số 068409 thật thì sử dụng để tham gia giao thông.

Khoảng tháng 2/2023, H1 liên hệ trang Facebook làm giả giấy tờ qua ứng dụng trò chuyện M và đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 với giá 1.500.000 đồng. H1 sử dụng điện thoại di động chụp hình ảnh Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 thật gửi cho trang Facebook để làm giả. Khoảng một tuần sau, nhân viên giao hàng giao cho H1 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 giả. H1 thanh toán số tiền 1.500.000 đồng cho nhân viên giao hàng. H1 không biết tên, địa chỉ, không lưu số điện thoại của nhân viên giao hàng. Sau đó, H1 cất giữ Giấy đăng ký xe ô tô giả này trong xe ô tô và không nói cho ai biết.

Khoảng tháng 3/2023, do cần tiền làm ăn kinh doanh và trả nợ, vợ chồng H1 thống nhất làm thủ tục vay tiền tại Công ty Cổ phần K1 (Địa điểm kinh doanh số 13 - Chi nhánh Công ty Cổ phần K1 tại Hải Dương, số A N, thị trấn G, tỉnh Hải Dương (gọi tắt là Công ty K1). H1 đến Công ty K1 làm thủ tục thế chấp xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios G, biển số: 34A - 383.86 và Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 thật để vay tiền. H1 biết Công ty K1 kiểm tra kỹ các giấy tờ của xe ô tô, có thể phát hiện giấy tờ giả nên H1 sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 thật để thế chấp. Theo hợp đồng cho vay và cầm cố tài sản, Công ty K1 quản lý bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 thật, còn chiếc xe ô tô biển số: 34A - 383.86 cho H1 mượn để sử dụng. Mức lãi suất vay 1,1%, phí thẩm định 1,4%, phí quản lý tài sản 2,0%. Ngày 17/3/2023, H1 ký hợp đồng cho vay và cầm cố tài sản số 30348465161 với Công ty K1, vay số tiền 200.589.600 đồng, thời hạn từ ngày 17/3/2023 đến ngày 17/6/2023. Đến hạn, H1 chưa trả được tiền vay cho Công ty K1. Các ngày 17/6/2023 và 17/9/2023, H1 ký các hợp đồng cho vay và cầm cố tài sản số 30682700396 (thời hạn từ ngày 17/6/2023 đến 17/9/2023) và số 30949390141 (thời hạn từ 17/9/2023 đến 17/12/2023) để tiếp tục gia hạn việc vay tiền và cầm cố tài sản tại Công ty K1, với số tiền lần lượt là 202.676.000 đồng và 211.969.996 đồng. Quá trình gia hạn, H1 đến ký, hoàn thiện các thủ tục, hợp thức hóa các hợp đồng, hồ sơ cho vay và cầm cố tài sản. Thực tế, H1 vẫn thế chấp xe ô tô và Công ty K1 vẫn quản lý bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 thật.

Ngày 22/7/2023, chị L đưa cho H1 số tiền 120.000.000 đồng để H1 trả tiền khoản vay tại Công ty K1. Tuy nhiên, H1 không trả tiền tại Công ty K1 mà trả tiền đối với các khoản nợ khác, H1 không nói chuyện này cho chị L biết. Khoảng tháng 8/2023, do cần tiền để trả nợ, H1 bàn bạc với chị L về việc bán chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios G, biển số: 34A - 383.86 cho vợ chồng anh Quang A và chị L1 với giá 420.000.000 đồng. Quá trình thỏa thuận về việc mua bán xe ô tô, vợ chồng anh Quang A tin tưởng, không kiểm tra giấy tờ đăng ký xe ô tô. H1 và chị L không nói cho vợ chồng anh Quang A biết về việc chiếc xe ô tô đang được thế chấp tại Công ty K1 để vay tiền. Thời điểm này, chị L có dự định trả hết khoản tiền vay cho Công ty K1, lấy lại Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô thật để làm thủ tục bán xe ô tô cho vợ chồng anh Quang A. Tuy nhiên, H1 không muốn chị L biết việc trước đó H1 chưa trả tiền cho Công ty K1 nên H1 nảy sinh ý định sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 giả để bán chiếc xe ô tô BKS: 34A - 383.86 cho vợ chồng anh Quang A, nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 420.000.000 đồng. Sau khi thống nhất thỏa thuận về việc mua bán xe ô tô, anh Quang A giao cho H1 số tiền 140.000.000 đồng tiền mặt để đặt cọc tiền mua chiếc xe ô tô. H1 giao chiếc xe ô tô, nhãn hiệu Toyota Vios G, biển số: 34A - 383.86 cho anh Quang A để sử dụng. Hai bên thỏa thuận, khi nào vợ chồng anh Quang A trả hết tiền mua xe ô tô thì H1 giao giấy tờ xe ô tô cho vợ chồng anh Quang A và làm hợp đồng mua bán xe và sang tên đổi chủ đổi cho anh Quang A. Khi nhận được số tiền 140.000.000 đồng, H1 giữ lại 60.000.000 đồng và nói với chị L sử dụng để trả khoản vay tại Công ty K1 để lấy lại giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô. Còn 80.000.000 đồng H1 đưa cho chị L để trả các khoản nợ khác của gia đình. Tuy nhiên, H1 không sử dụng số tiền 60.000.000 đồng trả khoản vay tại Công ty K1 mà sử dụng để trả các khoản nợ khác. H1 không nói nội dung này cho chị L biết. Sau đó, H1 mang GCN số 068409 giả giao cho chị L cất giữ. Chị L tin tưởng H1 đã trả hết tiền tại Công ty K1 và nhận lại bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô. Chị L không phát hiện đây là giấy tờ giả.

Số tiền mua xe ô tô còn lại, vợ chồng anh Quang A thanh toán cho vợ chồng H1 nhiều lần, cụ thể:

  • Ngày 23/8/2023, anh Quang A chuyển khoản cho H1 số tiền 20.000.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng trả tiền mua xe ô tô và 10.000.000 đồng cho H1 vay.
  • Ngày 06/9/2023, anh Quang A chuyển khoản cho chị L số tiền 100.000.000 đồng;
  • Ngày 14/9/2023, vợ chồng anh Quang A đến nhà H1 (tại thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương) giao cho vợ chồng H1 và chị L 170.000.000 đồng tiền mặt.

Sau khi vợ chồng anh Quang A đã trả cho vợ chồng H1 đủ số tiền 420.000.000 đồng để mua xe ô tô. Chị L giao giấy chứng nhận đăng ký đối với xe ô tô biển số: 34A - 383.86 cho anh Quang A. Đối với số tiền 420.000.000 đồng, H1 cầm 170.000.000 đồng, chị L cầm 250.000.000 đồng, cả hai đã trả nợ chung cho gia đình và chi tiêu hết số tiền trên.

Thời gian sau đó, H1 và anh Quang A thống nhất thuê anh Phạm An B ở thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương làm thủ tục mua, bán xe đồng thời làm các thủ tục thu hồi biển số xe cũ và đăng ký biển số xe mới với số tiền 4.000.000 đồng, khi làm xong thì H1 thanh toán tiền trả anh B. H1 bảo Quang A giao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409, ghi do Phòng C Công an tỉnh H cấp ngày 20/5/2020 (giấy tờ giả) cho anh B. B không biết, không phát hiện Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 là giả. Ngày 09/11/2023, anh B cùng vợ chồng anh Quang AH1 làm hợp đồng mua bán xe ô tô, có chứng thực tại UBND phường L, thành phố H. Ngày 13/11/2023, anh B nộp hồ sơ làm thủ tục thu hồi biển số xe ô tô biển số: 34A - 383.86 tại Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện G thì lực lượng Công an phát hiện, nghi vấn Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 là giả. Ngày 28/11/2023 Đ1 trật tự Công an huyện G chuyển vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện G, vụ án được điều tra làm rõ.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 17/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo Đặng Quốc H1 về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản Kết luận giám định số 313/KL-KTHS ngày 13/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh H, xác định:

  • Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô gửi giám định (ký hiệu A1- là giấy chứng nhận quản lý của anh Phạm An B) là giả toàn phần - phôi, hình dấu, chữ ký.
  • Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô gửi giám định (ký hiệu A2- là giấy chứng nhận do Công ty K1 cung cấp) là thật.
  • Chữ ký đứng tên Đặng Quốc H1 trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A3->A6) với chữ viết, chữ ký của Đặng Quốc H1 trên các mẫu so sánh (ký hiệu M3->M8) là do cùng một người ký ra.

Tại phiên tòa, bị cáo xác nhận bản thân nhận thức và biết rõ được Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do cơ quan Công an có thẩm quyền phát hành để cấp cho cá nhân đối với phương tiện tham gia giao thông. Nếu không phải do cơ quan Công an có thẩm quyền phát hành thì các giấy tờ trên đều là giả và không có giá trị sử dụng. Bị cáo thừa nhận đã cung cấp ảnh chụp của giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô thật để làm giấy tờ giả nhằm mục đích để lừa dối, bán chiếc xe ô tô cho vợ chồng anh Quang A để chiếm đoạt số tiền 420.000.000đ.

Bị cáo nhất trí với các kết luận định giám định; đồng thời thể hiện thái độ ăn năn hối cải; nhất trí với bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc đã truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản theo quy định Bộ luật hình sự là đúng, đồng thời bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc H1 phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Đặng Quốc H1 từ 09 năm 09 tháng đến 10 năm 03 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù về tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đặng Quốc H1 phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 12 năm 09 tháng đến 13 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục quản lý trong hồ sơ vụ án 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 0684409 (Kết luận giám định là tài liệu giả) là tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Đặng Quốc H1 phải chịu án theo quy định.

  • * Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng. Đề nghị HĐXX xem xét đến mục đích, nguyên nhân động cơ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo đã khắc phục hoàn toàn hậu quả xẩy ra; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn có 4 con nhỏ, vợ và mẹ già thường xuyên đau yếu. Vì vậy đề nghị HĐXX xử cho bị cáo 8 năm 3 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và nhất trí với mức án 3 năm tù về tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để bị cáo có cơ hội sửa sai sớm về đoàn tụ cùng gia đình.
  • * Bị cáo Đặng Quốc H1 nhất trí quan điểm của Luật sư bào chữa.
  • * Đối đáp với quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả của tội phạm. Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm theo bản luận tội đã công bố đối với bị cáo H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người tham gia tố tụng: Tại phiên toà bị hại, người làm chứng có đơn xin xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, những người này trước đó đã có lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện G nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng; phù hợp với vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Tháng 02/2023, tại thôn G, xã G, huyện G, Đặng Quốc H1 có hành vi đặt làm giả trên mạng xã hội Facebook 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Đặng Quốc H1, ghi số 068409, do Phòng C Công an tỉnh H cấp ngày 20/5/2020. Đến tháng 3/2023, H1 thế chấp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios G, biển số: 34A - 383.86 tại Công ty Cổ phần K1 tại thị trấn G, huyện G, để vay tiền. Công ty Cổ phần K1 đã quản lý Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 34A - 383.86 bản chính và giao xe ô tô biển số: 34A - 383.86 cho H1 mượn để sử dụng. Khoảng từ tháng 8/2023 đến tháng 9/2023, tại thôn G, xã G, huyện G, H1 sử dụng 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đã làm giả trước đó để lừa dối, bán chiếc xe ô tô biển số: 34A-383.86 cho vợ chồng anh Quang A để chiếm đoạt của vợ chồng anh Quang A số tiền 420.000.000 đồng.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi cung cấp thông tin, chụp hình ảnh giấy chứng nhận đăng ký xe của mình cho đối tượng không xác định được để làm giả giấy tờ là hành vi xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước về giấy tờ, tài liệu. Đồng thời sau khi có giấy chứng nhận đăng ký giả, bị cáo đã tiếp tục sử dụng giấy tờ, tài liệu giả để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của vợ chồng anh Quang A. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Do vậy bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi thực hiện hành vi lừa đảo, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho người bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặt khác, người bị hại vợ chồng anh Quang A có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên áp dụng cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về căn cứ quyết định hình phạt và tổng hợp hình phạt: Hội đồng xét xử thấy, bị cáo phạm nhiều tội và đều thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Vì vậy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới đảm bảo được sự nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo.

Do bị cáo phạm nhiều tội nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định hình phạt của từng tội và tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không còn việc làm và không có thu nhập nên căn cứ quy định tại Khoản 4 Điều 341 và Khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho vợ chồng anh Quang A. Riêng số tiền 10.000.000₫ anh Quang A chuyển cho bị cáo H1 vay vào ngày 23/8/2023, bị cáo đã trả vợ chồng anh Quang A nên về trách nhiệm dân sự không phải xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại Iphone bị cáo đã sử dụng vào việc đặt làm giấy tờ giả đã bị mất, không truy tìm được nên không đặt ra giải quyết. Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 0684409 (Kết luận giám định là tài liệu giả) được xác định là tài liệu giả, đã thu thập có trong hồ sơ vụ án nên tiếp tục quản lý lưu giữ tại hồ sơ.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác:

  • - Chị Đoàn Thị L mặc dù có bàn bạc thống nhất với H1 về việc bán chiếc xe ô tô cho vợ chồng anh Quang A. Tuy nhiên, chị L đã đưa tiền cho H1 trả tiền tại Công ty K1, mục đích lấy lại bản chính giấy chứng nhận xe ô tô để làm thủ tục bán xe ô tô cho vợ chồng Quang A. Thời điểm thực hiện việc mua, bán xe ô tô, chị L không biết việc chiếc xe ô tô biển số: 34A-383.86 vẫn là tài sản thế chấp tại Công ty K1, không biết việc H1 sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để bán xe ô tô. Do đó, hành vi của chị L không vi phạm pháp luật.
  • - Anh Phạm An B được H1 và anh Quang A thuê làm hợp đồng mua bán xe, thủ tục đăng ký thu hồi biển số xe cũ, cấp biển mới. Anh B không biết việc H1 sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để bán xe nên không đặt vấn đề xử lý.
  • - Đối với, Ủy ban nhân dân phường L, cá nhân ông Phạm Anh Đ (Chủ tịch UBND) và bà Đào Thị V2 là người tiếp nhận hồ sơ và ký lời chứng cho hợp đồng mua bán xe ô tô biển số: 34A - 383.86 ngày 09/11/2023 giữa vợ chồng H1 và anh Quang A, thực hiện việc chứng thực hợp đồng theo đúng quy định, không phải chịu trách nhiệm về nội dung hợp đồng. Ông Phạm Anh Đ và bà Đào Thị V2 không biết, không bắt buộc phải biết việc Đặng Quốc H1 sử dụng giấy tờ giả để mua bán xe ô tô, do đó không có lỗi, nên không đặt xem xét xử lý.
  • - Vợ chồng anh Quang A, chị Lê 1 người mua xe ô tô biển số: 34A-383.86 của Đặng Quốc H1 không biết việc H1 sử dụng giấy tờ giả nên không đặt ra xem xét xử lý.
  • - Đối với người đã thực hiện hành vi làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cho Đặng Quốc H1, Tuy nhiên H1 không biết người này và tài liệu điều tra đã thu thập cũng không xác định được người đã thực hiện hành vi làm giả các tài liệu trên mạng xã hội Facebook là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
  • - Đối với Công ty K1 thực hiện hợp đồng cho vay và cầm cố tài sản với mức lãi suất 1,10% tháng (13,2%/năm), chi phí thẩm định vay 1,4%/tháng, chi phí quản lý tài sản 2,0%/tháng, không vi phạm quy định trong hoạt động cho vay dân sự, không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc H1 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Quốc H1 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đặng Quốc H1 phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 12 (mười hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 15/12/2023.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục quản lý tại hồ sơ 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 0684409 (Kết luận giám định là tài liệu giả) lưu trong hồ sơ vụ án.
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa. Buộc bị cáo Đặng Quốc H1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Gia Lộc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương;
  • - CQCSĐT-Công an huyện Gia Lộc;
  • - CQTHAHS-Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Trại giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Lộc;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ; lưu VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng tháng 5/2020, vợ chồng Đặng Quốc Huy mua 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios G, màu sơn đen, số khung: RL4B23F30L5087719, số máy: 2NRX562549, đăng ký biển số: 34A - 383.86. Xe có Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 (gọi tắt là GCN số 068409), đứng tên Đặng Quốc Huy, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hải Dương cấp ngày 20/5/2020. Do làm ăn thua lỗ, nợ nần nhiều, Huy nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 068409 để cầm cố vay tiền của bạn bè xã hội khi cần, còn giấy chứng nhận đăng ký xe số 068409 thật thì sử dụng để tham gia giao thông
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger