|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2024/DS -ST
Ngày 13 tháng 6 năm 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư
Bà Hoàng Thị Hồng
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 10/2024/TLST- DS ngày 18/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXX-DS ngày 06/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-DS ngày 27/5/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần C (V)
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B - Chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP C.
Đại diện theo ủy quyền:
- Bà Ngụy Thị D - Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B1 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Mạnh T - Cán bộ Phòng tổng hợp - Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B1 (vắng mặt)
Địa chỉ trụ sở chi nhánh: Số D, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Theo văn bản uỷ quyền số 461/UQ-HĐQT-NHCT18-PCTT3 ngày 24 tháng 04 năm 2023 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP C)
* Bị đơn: Bà Hoàng Thanh L, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số P Chung cư Q, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B1 (Sau đây viết tắt là Ngân hàng) và bà Hoàng Thanh L có ký Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 29/06/2017 và các phụ lục hợp đồng các ngày 18/07/2018 và ngày 10/06/2021, mục đích phát hành thẻ tiêu dùng phục vụ đời sống, cụ thể từng lần cấp như sau:
Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/06/2017; Hạn mức: 10.000.000 đồng; Thời hạn hiệu lực của thẻ, hạn mức thẻ tín dụng: 12 tháng.
Ngân hàng gia hạn lại thẻ cho khách hàng theo “Đề nghị gia hạn thẻ tín dụng kiêm phụ lục hợp đồng” ngày 18/07/2018; Hạn mức: 10.000.000 đồng; Thời hạn hiệu lực của thẻ, hạn mức thẻ tín dụng: 36 tháng.
Ngân hàng gia hạn lại thẻ cho khách hàng theo “Đề nghị gia hạn thẻ tín dụng kiêm phụ lục hợp đồng” ngày 10/06/2021; Hạn mức: 35.000.000 đồng; Thời hạn hiệu lực của thẻ, hạn mức thẻ tín dụng đến 30/06/2026.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, từ ngày 27/09/2021, dư nợ thẻ tín dụng của bà Hoàng Thanh L đã quá hạn với số tiền là 5.176.927 đồng nhưng bà L không trả nợ cho Ngân hàng. Kể từ ngày 27/09/2021 đến nay, dư nợ thẻ tín dụng của bà Hoàng Thanh L tại Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn toàn bộ. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với bà L yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại Hợp đồng phát hành thẻ nhưng bà L chưa trả cho Ngân hàng. Tính đến ngày 13/6/2024 dư nợ gốc, lãi của bà Hoàng Thanh L đối với Ngân hàng là: 15.757.093 đồng, trong đó số tiền gốc quá hạn từ ngày 27/9/2021 là 10,629,508 đồng, số tiền lãi: 5.127.585 đồng.
Nay Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bà Hoàng Thanh L, đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau: Buộc bà Hoàng Thanh L phải trả toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng phát hành thẻ tính đến ngày 13/6/2024 với số tiền là 15.757.093 đồng, trong đó số tiền gốc là 10,629,508 đồng, số tiền lãi: 5.127.585 đồng và tiếp tục phải trả lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng phát hành thẻ kể từ ngày 14/6/2024 cho đến thời điểm hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
* Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bà Hoàng Thanh L theo quy định pháp luật nhưng bà L từ chối không nhận Thông báo thụ lý vụ án và không đến Tòa án để làm việc thể hiện quan điểm giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Hòa giải đối với nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn là bà L vắng mặt, nên các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
* Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Căn cứ Điều 90, Điều 91, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 238, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần C.
2. Buộc bà Hoàng Thanh L phải trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần C - Chi nhánh B1 tính đến ngày 13/6/2024, số tiền gốc là 10.629.508 đồng, số tiền lãi là: 5.127.585 đồng. Tổng cộng là 15.757.093 đồng (Mười năm triệu bẩy trăm năm mươi bẩy nghìn không trăm chín ba đồng) theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 29/06/2017 và các phụ lục hợp đồng các ngày 18/07/2018, ngày 10/06/2021.
3. Về án phí: Bà Hoàng Thanh L phải chịu 787.855 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần C - Chi nhánh B1 số tiền 355.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001570 ngày 18/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn bà Hoàng Thanh L đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán khoản nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng. Do vậy, xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là bà Hoàng Thanh L hiện đang cư trú tại: Phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang có thẩm quyền giải quyết vụ án theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B1 khởi kiện yêu cầu bà Hoàng Thanh L phải trả toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 29/06/2017 và các phụ lục hợp đồng các ngày 18/07/2018 và ngày 10/06/2021, tính đến ngày 13/6/2024 với số tiền là 15.757.093 đồng, trong đó số tiền gốc là 10.629.508 đồng, số tiền lãi: 5.127.585 đồng, bà L tiếp tục phải trả lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng phát hành thẻ kể từ ngày 14/6/2024 cho đến thời điểm hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Xét thấy, giữa Ngân hàng và bà Hoàng Thanh L hai bên ký Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng đúng trình tự quy định pháp luật. Ngân hàng đã giao T1 cho bà L, trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả nợ Ngân hàng kể từ ngày 27/09/2021 đến nay. Do đó, dư nợ thẻ tín dụng của bà Hoàng Thanh L tại Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn toàn bộ, Ngân hàng đã nhiều lần ra Thông báo nợ quá hạn và yêu cầu bà L trả nợ nhưng bà L vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng theo hợp đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L trả số tiền nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng và các phụ lục hợp đồng đã ký nêu trên là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 91; Điều 95; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ Điều 90, Điều 91, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 238, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần C.
2. Buộc bà Hoàng Thanh L phải trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần C - Chi nhánh B1 tính đến ngày 13/6/2024, số tiền gốc là: 10.629.508 đồng, số tiền lãi là: 5.127.585 đồng. Tổng cộng 15.757.093 đồng (Mười năm triệu bẩy trăm năm mươi bẩy nghìn không trăm chín ba đồng) theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 29/06/2017 và các phụ lục hợp đồng các ngày 18/07/2018, ngày 10/06/2021.
3. Về án phí: Bà Hoàng Thanh L phải chịu 787.855 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần C - Chi nhánh B1 số tiền 355.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001570 ngày 18/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
4. Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Tú |
Bản án số 38/2024/DS-ST ngày 13/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 38/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
