Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÃNG

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày 13/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Chu Thị Bời;

Ông Bế Đức Thông.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Vũ Thanh Lịch - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định thay đổi Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm (hoặc phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm hoặc tái thẩm) vụ án hình sự số 02/QĐ-VKS ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:

Chu Văn G; sinh ngày 02/10/1975 tại tỉnh Bắc Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số C, T, khối A, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn C (sinh năm 1945) và bà Hoàng Thị Đ (sinh năm 1946); vợ: Nông Thị Thanh D (sinh năm 1978); con: Có 02 người, con lớn sinh năm 2003, con bé sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ ngày 09/01/2024, tạm giam ngày 12/01/2024 đến ngày 23/01/2024 được thay đổi biện pháp bảo lĩnh. Tại ngoại. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Lô Văn T, sinh năm 1988. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1975. Vắng mặt.
  3. Cùng địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn.

  4. Chị Trần Thị Ngọc Á, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu D, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ khoảng tháng 02/2023 đến trước khi bị bắt, Chu Văn G đã bỏ ra số tiền 223.900.000 đồng để quay vòng cho anh Nguyễn Văn T1, chị Trần Thị Ngọc Á, anh Lô Văn T vay tiền với lãi suất cao, vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 20%/năm của khoản tiền vay. Hàng tháng, người vay sẽ đến trả tiền cho Chu Văn G tại nhà riêng hoặc qua tài khoản ngân hàng B số tài khoản 35110000667740 mang tên Chu Văn G.

Quá trình điều tra đã làm rõ Chu Văn G cho một số người vay lãi cụ thể như sau:

1. Anh Nguyễn Văn T1 vay tiền Chu Văn G 16 lần, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 14 giờ ngày 04/6/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G để hỏi vay tiền, Chu Văn G đồng ý cho vay và trực tiếp chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1 9.500.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Văn T1 mở tại ngân hàng V, vay trong một ngày. Đến khoảng 13 giờ ngày 05/6/2023, Nguyễn Văn T1 chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng B của Chu Văn G số 35110000667740 trả 9.500.000 đồng và trả lãi số tiền 500.000 đồng, tổng là 10.000.000 đồng tương đương lãi suất 1921,05%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 494.795 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 5.205 đồng.

Lần 2: Khoảng 17 giờ ngày 05/6/2023, Nguyễn Văn T1 tiếp tục gọi điện hỏi vay Chu Văn G số tiền 45.000.000 đồng và thoả thuận trong vòng 10 ngày trả lãi 5.000.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền 9.500.000 đồng Nguyễn Văn T1 đã trả cộng với 35.500.000 đồng để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1 45.000.0000 đồng. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/6/2023, Nguyễn Văn T1 chuyển khoản trả vào tài khoản ngân hàng của Chu Văn G số tiền 50.000.000 đồng tương đương lãi suất 405,56%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 4.753.425 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 246.575 đồng.

Lần 3: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/6/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện hỏi vay Chu Văn G số tiền 18.000.000 đồng và thoả thuận trong vòng 05 ngày trả lãi 2.000.000 đồng, Chu Văn G chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1 18.000.0000 đồng. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/6/2023, Nguyễn Văn T1 chuyển khoản trả vào tài khoản ngân hàng của Chu Văn G số tiền 20.000.000 đồng tương đương lãi suất 811,11%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 1.950.685 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 49.315 đồng.

Lần 4: Khoảng 10 giờ ngày 24/6/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện hỏi vay Chu Văn G số tiền 44.000.000 đồng và thoả thuận trong vòng 30 ngày trả lãi 6.000.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền Nguyễn Văn T1 đã trả ngày 15/6/2023 để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1 44.000.0000 đồng. Khoảng 20 giờ ngày 24/7/2023, Nguyễn Văn T1 chuyển khoản trả vào tài khoản ngân hàng của Chu Văn G số tiền 31.000.000 đồng và đưa trả 19.000.000 đồng tiền mặt tương đương lãi suất 165,91%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 5.276.712 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 723.288 đồng.

Lần 5: Khoảng 18 giờ ngày 26/6/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 9.500.000 đồng và thoả thuận trong vòng 01 ngày trả lãi 500.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền Nguyễn Văn T1 đã trả ngày 17/6/2023 để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1. Khoảng 19 giờ ngày 27/6/2023, Nguyễn Văn T1 chuyển khoản trả vào tài khoản ngân hàng của Chu Văn G số tiền 10.000.000 đồng tương đương lãi suất 1921,05%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 494.795 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 5.205 đồng.

Lần 6: Khoảng 21 giờ ngày 27/6/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 19.200.000 đồng và thoả thuận đến ngày 03/7/2023 sẽ trả lãi 800.000 đồng. Chu Văn G đồng ý và chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1. Đến khoảng 14 giờ ngày 30/6/2023, Nguyễn Văn T1 tiếp tục hỏi vay Chu Văn G số tiền 23.200.000 đồng, bảo cộng với số tiền đã vay ngày 27/6/2023 và vẫn tính lãi hai khoản từ ngày 27/6/2023, hẹn đến ngày 03/7/2023 sẽ trả cho cả gốc và lãi của hai khoản tổng cộng là 50.000.000 đồng. Khoảng 08 giờ ngày 03/7/2023, Nguyễn Văn T1 đến nhà trả tiền mặt cho Chu Văn G số tiền 50.000.000 đồng, tổng số ngày vay là 06 ngày, tương đương lãi suất 1090,41%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 7.460.603 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 139.397 đồng.

Lần 7: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/7/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 28.500.000 đồng và thoả thuận trong vòng 01 ngày trả lãi 1.500.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền Nguyễn Văn T1 đã trả ngày 03/7/2023 để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1. Khoảng 08 giờ ngày 27/7/2023, Nguyễn Văn T1 gặp trực tiếp trả tiền mặt cho Chu Văn G số tiền 30.000.000 đồng tương đương lãi suất 1921,05%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 1.484.384 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 15.616 đồng.

Lần 8: Khoảng 22 giờ ngày 27/7/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 9.500.000 đồng và thoả thuận trong vòng 01 ngày trả lãi 500.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền Nguyễn Văn T1 đã trả sáng ngày 27/7/2023 để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1. Khoảng 09 giờ ngày 28/7/2023, Nguyễn Văn T1 gặp trực tiếp trả tiền mặt cho Chu Văn G số tiền 10.000.000 đồng tương đương lãi suất 1921,05%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 494.795 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 5.205 đồng.

Lần 9: Khoảng 16 giờ ngày 29/7/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 18.500.000 đồng và thoả thuận trong vòng 01 ngày trả lãi 1.500.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền Nguyễn Văn T1 đã trả ngày 26/7/2023 để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1. Khoảng 08 giờ ngày 30/7/2023, Nguyễn Văn T1 gặp trực tiếp trả tiền mặt cho Chu Văn G số tiền 20.000.000 đồng tương đương lãi suất 2959,46%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 1.489.863 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 10.137 đồng.

Lần 10: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/8/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 28.500.000 đồng và thoả thuận trong vòng 01 ngày trả lãi 1.500.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền Nguyễn Văn T1 đã trả ngày 28/7/2023 và 30/7/2023 để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1. Khoảng 08 giờ ngày 12/8/2023, Nguyễn Văn T1 gặp trực tiếp trả tiền mặt cho Chu Văn G số tiền 30.000.000 đồng tương đương lãi suất 1921,05%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 1.484.384 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 15.616 đồng.

Lần 11: Khoảng 11 giờ ngày 29/8/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 13.500.000 đồng và thoả thuận trong vòng 01 ngày trả lãi 1.500.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền Nguyễn Văn T1 đã trả ngày 12/8/2023 để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1. Khoảng 08 giờ ngày 30/8/2023, Nguyễn Văn T1 gặp trực tiếp trả tiền mặt cho Chu Văn G số tiền 15.000.000 đồng tương đương lãi suất 4055,56%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 1.492.603 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 7.397 đồng.

Lần 12: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/10/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 19.000.000 đồng và thoả thuận trong vòng 01 ngày trả lãi 1.000.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền Nguyễn Văn T1 đã trả ngày 12/8/2023 và 30/8/2023 để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1. Khoảng 08 giờ ngày 14/10/2023, Nguyễn Văn T1 gặp trực tiếp trả tiền mặt cho Chu Văn G số tiền 20.000.000 đồng tương đương lãi suất 1921,05%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 989.589 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 10.411 đồng.

Lần 13: Khoảng 11 giờ ngày 26/10/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 9.000.000 đồng và thoả thuận trong vòng 01 ngày trả lãi 1.000.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền Nguyễn Văn T1 đã trả ngày 14/10/2023 để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1. Khoảng 17 giờ ngày 27/10/2023, Nguyễn Văn T1 chuyển khoản trả cho Chu Văn G số tiền 10.000.000 đồng tương đương lãi suất 4055,56%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 995.068 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 4.932 đồng.

Lần 14: Khoảng 21 giờ ngày 28/10/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 5.000.000 đồng và thoả thuận trong vòng 01 ngày trả lãi 500.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền Nguyễn Văn T1 đã trả ngày 27/10/2023 để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1. Khoảng 20 giờ ngày 29/10/2023, Nguyễn Văn T1 chuyển khoản trả cho Chu Văn G số tiền 5.500.000 đồng tương đương lãi suất 3650%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 497.260 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 2.740 đồng.

Lần 15: Khoảng 16 giờ ngày 31/10/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 4.500.000 đồng và thoả thuận trong vòng 01 ngày trả lãi 500.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền Nguyễn Văn T1 đã trả ngày 29/10/2023 để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1. Khoảng 16 giờ ngày 01/11/2023, Nguyễn Văn T1 chuyển khoản trả cho Chu Văn G số tiền 5.000.000 đồng tương đương lãi suất 4055,56%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 497.534 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 2.466 đồng.

Lần 16: Khoảng 20 giờ ngày 01/11/2023, Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 18.000.000 đồng và thoả thuận trong vòng 01 ngày trả lãi 2.000.000 đồng, Chu Văn G sử dụng số tiền Nguyễn Văn T1 đã trả ở các khoản vay trước để chuyển khoản cho Nguyễn Văn T1 9.000.000 đồng và đưa cho Nguyễn Văn T1 9.000.000 tiền mặt. Ngày 02/11/2023 do Nguyễn Văn T1 bận việc riêng nên đến khoảng 16 giờ ngày 03/11/2023, Nguyễn Văn T1 đã chuyển khoản trả cho Chu Văn G số tiền 20.000.000 đồng tương đương lãi suất 4055,56%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 1.990.137 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 9.863 đồng.

Tổng số tiền gốc mà bị cáo bỏ ra để cho anh Nguyễn Văn T1 vay quay vòng là 105.400.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính Chu Văn G đã được nhận từ các khoản vay của Nguyễn Văn T1 là 31.846.630 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 1.253.370 đồng.

2. Chị Trần Thị Ngọc Á vay tiền Chu Văn G 06 lần, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 17 giờ ngày 15/8/2023, Trần Thị Ngọc Á gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 10.000.000 đồng và thoả thuận lãi suất 5.000 đồng/ 01 triệu/ 01 ngày, số ngày vay 10 ngày, Chu Văn G đồng ý và chuyển khoản cho Trần Thị Ngọc Á 9.500.000 đồng, cắt lãi luôn 500.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ ngày 25/8/2023, Trần Thị Ngọc Á chuyển khoản trả Chu Văn G số tiền 10.000.000 đồng tương đương lãi suất 192,11%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 447.945 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 52.055 đồng.

Lần 2: Khoảng 18 giờ ngày 26/8/2023, Trần Thị Ngọc Á gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 10.000.000 đồng và thoả thuận lãi suất 5.000 đồng/ 01 triệu/ 01 ngày. Chu Văn G đồng ý và lấy tiền Trần Thị Ngọc Á trả ngày 25/8/2023 để chuyển khoản cho Trần Thị Ngọc Á 9.500.000 đồng, cắt lãi luôn 500.000 đồng. Đến ngày 14/9/2023, Trần Thị Ngọc Á chuyển khoản trả Chu Văn G số tiền 10.000.000 đồng (trước đó ngày 14/9/2023, Trần Thị Ngọc Á chuyển khoản trả thêm 01 lần lãi 500.000 đồng vào ngày 05/9/2023 do sau 10 ngày chưa trả được tiền gốc) tổng số ngày vay là 20 ngày, tương đương lãi suất 192,11%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 895.890 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 104.110 đồng.

Lần 3: Ngày 14/9/2023, sau khi trả xong khoản vay cũ, Trần Thị Ngọc Á đến hỏi vay Chu Văn G số tiền 30.000.000 đồng và thoả thuận lãi suất 5.000 đồng/ 01 triệu/ 01 ngày. Chu Văn G đồng ý rồi lấy số tiền Trần Thị Ngọc Á đã trả ngày 14/9/2023 và thêm 19.000.000 nữa để chuyển khoản cho Trần Thị Ngọc Á 28.500.000 đồng, cắt lãi luôn 1.500.000 đồng. Đến ngày 24/9/2023, Trần Thị Ngọc Á chuyển cho Chu Văn G 1.500.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 27/9/2023, Trần Thị Ngọc Á chuyển khoản trả Chu Văn G số tiền cả gốc cả lãi là 30.000.000 đồng, tổng số ngày vay là 13 ngày, tương đương lãi suất 295,55%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 2.796.986 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 203.014 đồng.

Lần 4: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 01/11/2023, Trần Thị Ngọc Á gọi điện cho Chu Văn G hỏi vay số tiền 10.000.000 đồng và thoả thuận lãi suất 5.000 đồng/ 01 triệu/ 01 ngày, hẹn trả trong vòng 20 ngày. Chu Văn G đồng ý và lấy tiền Trần Thị Ngọc Á trả ngày 27/9/2023 để chuyển khoản cho Trần Thị Ngọc Á 9.000.000 đồng, cắt lãi luôn 1.000.000 đồng. Đến ngày 20/11/2023, Trần Thị Ngọc Á chuyển khoản trả Chu Văn G số tiền 10.000.000 đồng tương đương lãi suất 202,78%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 901.370 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 98.630 đồng.

Lần 5: Ngày 04/11/2023, Trần Thị Ngọc Á đến gặp Chu Văn G hỏi vay số tiền 10.000.000 đồng và thoả thuận lãi suất 5.000 đồng/ 01 triệu/ 01 ngày, hẹn đến ngày 20/11/2023 sẽ thanh toán. Chu Văn G đồng ý và lấy tiền Trần Thị Ngọc Á trả ngày 27/9/2023 để chuyển khoản cho Trần Thị Ngọc Á 9.000.000 đồng, cắt lãi luôn 1.000.000 đồng. Đến ngày 20/11/2023, Trần Thị Ngọc Á chuyển khoản trả Chu Văn G số tiền 500.000 đồng tiền lãi. Ngày 30/11/2023, Trần Thị Ngọc Á đã chuyển khoản thanh toán hết khoản vay cho Chu Văn G, tổng số ngày vay là 27 ngày, tương đương lãi suất 225,31%/năm. Số tiền thu lợi bất chính là 1.366.849 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 133.151 đồng.

Lần 6: Ngày 07/12/2023, Trần Thị Ngọc Á hỏi vay Chu Văn G số tiền 20.000.000 đồng và thoả thuận lãi suất 5.000 đồng/ 01 triệu/ 01 ngày, hẹn trong vòng 10 ngày sẽ thanh toán. Chu Văn G đồng ý và lấy tiền Trần Thị Ngọc Á trả các ngày trước đó để chuyển khoản cho Trần Thị Ngọc Á 19.000.000 đồng, cắt lãi luôn 1.000.000 đồng. Đến ngày 17/12/2023, Trần Thị Ngọc Á chuyển khoản trả số tiền 1.000.000 đồng tiền lãi. Ngày 27/12/2023, do chưa đủ tiền thanh toán nên Trần Thị Ngọc Á tiếp tục chuyển khoản trả số tiền 1.000.000 đồng tiền lãi. Ngày 06/01/2024, Trần Thị Ngọc Á tiếp tục chuyển khoản trả số tiền 1.000.000 đồng tiền lãi. Đến ngày bị phát hiện là ngày 08/01/2024, tổng số ngày vay là 32 ngày. Đến nay, Trần Thị Ngọc Á chưa thanh toán khoản vay này cho Chu Văn G. Cứ 10 ngày Trần Thị Ngọc Á trả số tiền lãi 1.000.000 đồng/01 kỳ, tương đương lãi suất 192,11%/năm. Số tiền thu lợi bất chính Chu Văn G đã nhận được là 2.687.671 đồng. Số tiền thu lợi bất chính sẽ nhận được là 179.178 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 20.822 đồng.

Tổng số tiền gốc mà bị cáo bỏ ra để cho chị Trần Thị Ngọc Á vay quay vòng là 28.500.000 đồng. Tổng số tiền Chu Văn G sẽ thu lợi bất chính từ việc cho Trần Thị Ngọc Á vay là 9.275.890 đồng, trong đó, số tiền Chu Văn G đã thu lợi bất chính của người vay là 9.096.712 đồng, số tiền chưa thu lợi bất chính do bị phát hiện là 179.178 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 903.288 đồng.

3. Anh Lô Văn T vay tiền Chu Văn G 05 lần, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng giữa tháng 02/2023, Lô Văn T gọi điện hỏi vay Chu Văn G số tiền 100.000.000 đồng, Lô Văn T đến nhà gặp trực tiếp và thoả thuận lãi 30 ngày/01 kỳ là 10.000.000 đồng. Chu Văn G đồng ý và đưa cho Lô Văn T 90.000.000 đồng tiền mặt, tổng cộng Lô Văn T đã thanh toán cho Chu Văn G 04 kỳ lãi tương đương 40.000.000 đồng. Lô Văn T đã thanh toán toàn bộ khoản vay và lãi là 130.000.000 đồng cho Chu Văn G phần lớn là tiền mặt, tổng số ngày vay là 120 ngày, tương đương lãi suất 135,19%/năm. Số tiền thu lợi bất chính đã nhận được là 34.082.192 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 5.917.808 đồng.

Lần 2: Ngày 20/8/2023, Lô Văn T trực tiếp đến nhà hỏi vay Chu Văn G số tiền 45.000.000 đồng, thoả thuận vay trong 30 ngày trả lãi 5.000.000 đồng. Chu Văn G đồng ý và lấy số tiền Lô Văn T đã trả từ khoản vay trước đó để chuyển vào tài khoản cho Lô Văn T 45.000.000 đồng. Ngày 20/9/2023, Lô Văn T đã trả tiền mặt cho Chu Văn G số tiền 50.000.000 đồng, tương đương lãi suất 135,19%/năm. Số tiền thu lợi bất chính đã nhận được là 4.260.274 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 739.726 đồng.

Lần 3: Ngày 21/8/2023, Lô Văn T trực tiếp đến nhà hỏi vay Chu Văn G số tiền 45.000.000 đồng, thoả thuận vay trong 60 ngày trả lãi 10.000.000 đồng. Chu Văn G đồng ý và tiếp tục lấy số tiền Lô Văn T đã trả từ khoản vay trước đó để chuyển vào tài khoản cho Lô Văn T 45.000.000 đồng. Ngày 21/10/2023, Lô Văn T đã trả tiền mặt cho Chu Văn G số tiền 55.000.000 đồng, tương đương lãi suất 135,19%/năm. Số tiền thu lợi bất chính đã nhận được là 8.520.548 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 1.479.452 đồng.

Lần 4: Khoảng cuối năm 2023, Lô Văn T tiếp tục đến nhà gặp và hỏi vay Chu Văn G số tiền 100.000.000 đồng, thoả thuận lãi 30 ngày/01 kỳ là 10.000.000 đồng. Chu Văn G đồng ý rồi lấy số tiền Lô Văn T đã trả ngày 20/9/2023 và 21/10/2023 để đưa cho Lô Văn T 90.000.000, tháng sau đó Lô Văn T đã trả cho Chu Văn G tiền lãi 10.000.000 đồng, tổng cộng Lô Văn T đã trả 02 kỳ tiền lãi 20.000.000 đồng và tiền gốc thanh toán xong khoản vay, tổng số ngày vay là 60 ngày, tương đương lãi suất 135,19%/năm. Số tiền thu lợi bất chính đã nhận được là 17.041.096 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 2.958.904 đồng.

Lần 5: Ngày 04/01/2024, Lô Văn T trực tiếp đến nhà hỏi vay Chu Văn G số tiền 45.000.000 đồng, thoả thuận vay trong 07 ngày, trả lãi 3.000 đồng/ 01 triệu/ngày. Chu Văn G đồng ý và lấy số tiền Lô Văn T đã trả từ khoản vay cuối tháng 10/2023 để chuyển vào tài khoản cho Lô Văn T 45.000.000 đồng. Vì chưa đến kỳ trả nên Lô Văn T chưa trả tiền gốc và lãi cho Chu Văn G, khoản vay này tương đương lãi suất 109,5%/năm. Tính đến ngày bị phát hiện ngày 08/01/2024, tổng số ngày vay là 05 ngày. Số tiền thu lợi bất chính sẽ nhận được là 551.712 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 123.288 đồng.

Tổng số tiền gốc mà bị cáo bỏ ra để cho anh Lô Văn T vay quay vòng là 90.000.000 đồng. Tổng số tiền Chu Văn G sẽ thu lợi bất chính từ việc cho anh Lô Văn T vay là 64.455.822 đồng, trong đó, số tiền Chu Văn G đã thu lợi bất chính của người vay là 63.904.110 đồng, số tiền chưa thu lợi bất chính do bị phát hiện là 551.712 đồng. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu là 11.219.178 đồng.

Như vậy, tổng số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự mà bị cáo sẽ thu của người vay anh Lô Văn T, anh Nguyễn Văn T1, chị Trần Thị Ngọc Á là 105.578.342 đồng. Trong đó có 730.890 đồng bị cáo chưa nhận được từ người vay do bị phát hiện, 104.847.452 đồng là số tiền thu lợi bất chính bị cáo đã nhận được từ người vay. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của những người vay là 13.375.836 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chu Văn G, thu giữ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số seri BU 162872 ngày 16/12/2013 mang tên Lô Văn T; 01 Giấy biên nhận tiền bán đất đề ngày 15/6/2022 giữa Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thị Vân A và Nguyễn Văn T1; 01 Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 09/10/2023 giữa Chu Văn GNguyễn Văn T1, Đinh Thị Bích Đ1. Đối với chiếc điện thoại di động bị cáo khai nhận dùng để liên lạc và chuyển khoản tiền vay không xác định được đang ở đâu, quá trình khám xét chỗ ở của Chu Văn G không phát hiện chiếc điện thoại này.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn G khai nhận toàn bộ sự việc như nêu trên. Mục đích số tiền gốc mà bị cáo đưa cho những người vay ít hơn số tiền thỏa thuận ban đầu là nhằm để bị cáo được hưởng lợi nhiều hơn. Bị cáo nói với những người vay là cắt lãi luôn tháng đầu nhưng thực chất là để hợp lí hóa khoản tiền gốc bị cáo đưa cho những người vay, đến khi thanh toán cả gốc lẫn lãi thì bị cáo sẽ được lời khoản tiền lãi đã cắt luôn ở kỳ vay đầu tiên. Quá trình cho vay tiền, bị cáo có giữ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lô Văn T để làm tin, bị cáo đề nghị trả lại cho anh Lô Văn T. Đối với 01 Giấy biên nhận tiền bán đất đề ngày 15/6/2022 và 01 Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 09/10/2023 bị thu giữ là giấy tờ liên quan đến việc mua bán đất giữa bị cáo và anh Nguyễn Văn T1, không liên quan đến vụ án nên bị cáo đề nghị được trả lại. Đối với chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để giao dịch tiền qua tài khoản ngân hàng bị cáo đã làm mất, không tìm lại được.

Quá trình điều tra, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lô Văn T, anh Nguyễn Văn T1, chị Trần Thị Ngọc Á trình bày sự việc như nội dung nêu trên. Anh, chị đã trả đủ toàn bộ số nợ gốc và lãi cho bị cáo Chu Văn G và đã được bị cáo Chu Văn G trả lại đầy đủ số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng. Do đó, anh, chị không có yêu cầu gì thêm và đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 19 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Chu Văn G về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương. Đề nghị áp dụng khoản 2, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Chu Văn G từ 08 tháng đến 09 tháng tù về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Do bị cáo phạm tội trên 05 lần và có những khoản thu nhập từ việc phạm tội phục vụ cho việc sinh sống nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp theo điểm b khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải nộp số tiền 223.900.000 đồng là khoản tiền gốc mà bị cáo bỏ ra để cho vay nợ xoay vòng và 13.375.836 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của những người vay. Tổng số tiền truy thu là 237.275.836 đồng. Ghi nhận bị cáo đã trả lại số tiền thu lợi bất chính cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Trả lại cho anh Lô Văn T 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trả lại cho bị cáo 01 Giấy biên nhận tiền bán đất đề ngày 15/6/2022 và 01 Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 09/10/2023. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do, có thu nhập hợp pháp là nguồn sống chính. Bị cáo không sử dụng số tiền thu lợi từ việc phạm tội làm nguồn sống chính, do ăn chơi nên bị cáo cho vay lãi nặng để có một phần thu nhập nhỏ phục vụ mục đích của mình. Những người vay tiền của bị cáo đều là những người có quan hệ quen biết chủ động đặt vấn đề vay tiền với bị cáo, lãi suất do họ tự đưa ra, bị cáo không ép buộc. Việc cho vay lãi nặng chỉ là giao dịch dân sự, do bị cáo không hiểu biết nên phạm tội, bị cáo không nhằm mục đích gây mất trật tự tại địa phương. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  3. [3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ khoảng tháng 02/2023 đến trước khi bị bắt, bị cáo Chu Văn G đã bỏ ra số tiền 223.900.000 đồng để quay vòng cho anh Nguyễn Văn T1, chị Trần Thị Ngọc Á và anh Lô Văn T cho vay 27 lần, với mỗi lần lãi suất đều trên 100%/năm (gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự là 20%/năm của khoản tiền vay), tổng số tiền thu lợi bất chính là 105.578.342 đồng, trong đó có 01 lần thu lợi bất chính 34.082.192 đồng, các lần còn lại dưới 30.000.000 đồng.
  4. [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên cố ý thực hiện.
  5. [5] Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Chu Văn G phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.
  6. [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do, việc cho vay lãi nặng không phải làm nghề sinh sống và không lấy kết quả của việc phạm tội là nguồn sống chính. Mặc dù bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhưng chỉ có một lần thu lợi bất chính trên 30.000.000 đồng, các lần khác đều dưới 30.000.000 đồng. Căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì không thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”. Do đó, các lần thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo Chu Văn G chỉ tính là 01 lần phạm tội, không phải 05 lần trở lên như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Do vậy, không có căn cứ áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm phạm tội có tính chất chuyên nghiệp đối với bị cáo.
  7. [7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bố đẻ của bị cáo là ông Chu Văn C là thương binh, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất và Huy chương vì sự nghiệp giáo dục. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan toàn bộ số tiền lãi bất hợp pháp. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  8. [8] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú.
  9. [9] Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Xét thấy không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi đang cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp với mức độ, tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
  10. [10] Về hình phạt bổ sung: Theo xác minh của Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo có tài sản là nhà và đất tại địa phương. Xét thấy việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là cần thiết. Do đó, cần phạt bị cáo 30.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
  11. [11] Đối với số tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo đã thu của người vay là 104.847.452 đồng, bị cáo đã trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lô Văn T, anh Nguyễn Văn T1, chị Trần Thị Ngọc Á; họ không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  12. [12] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy số tiền 223.900.000 đồng là khoản tiền gốc mà bị cáo bỏ ra để cho vay nợ xoay vòng và số tiền 13.375.836 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của những người vay nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước. Tổng số tiền bị cáo phải nộp là 237.275.836 đồng. Trả lại cho anh Lô Văn T 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trả lại cho bị cáo 01 Giấy biên nhận tiền bán đất ngày 15/6/2022 và 01 Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đối với chiếc điện thoại di động bị cáo khai nhận dùng để liên lạc và chuyển khoản tiền vay, quá trình điều tra không tìm thấy chiếc điện thoại này nên không có căn cứ để xử lý.
  13. [13] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  14. [14] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  15. [15] Xét các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử thì được chấp nhận, các ý kiến không phù hợp thì không được chấp nhận.
  16. [16] Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2, 3 Điều 201; điểm a, b khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a, b khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh
  2. Tuyên bố bị cáo Chu Văn G phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

  3. Về hình phạt
  4. Xử phạt bị cáo Chu Văn G 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/6/2024).

    Giao bị cáo Chu Văn G cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Chu Văn G có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Chu Văn G số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

  5. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp
  6. 3.1. Buộc bị cáo Chu Văn G phải nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền gốc sử dụng vào việc cho vay lãi nặng là 223.900.000 (hai trăm hai mươi ba triệu chín trăm nghìn) đồng và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của những người vay là 13.375.836 (mười ba triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi sáu) đồng. Tổng số tiền bị cáo phải nộp vào ngân sách Nhà nước là 237.275.836 (hai trăm ba mươi bảy triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi sáu) đồng.

    3.2. Trả lại cho anh Lô Văn T 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số seri BU 162872 ngày 16/12/2013, số vào sổ cấp GCN: CH00872 mang tên Lô Văn T;

    3.3. Trả lại cho bị cáo Chu Văn G 01 Giấy biên nhận tiền bán đất đề ngày 15/6/2022, gồm 01 trang, chữ viết tay, mực xanh, cuối trang có chữ ký Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thị Vân A, Nguyễn Văn T1.

    3.4. Trả lại cho bị cáo Chu Văn G 01 Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 09/10/2023, gồm 02 trang, chữ viết tay, mực đen, cuối trang 02 có chữ ký Nguyễn Văn T1, Đinh Thị Bích Đ1 và 02 dấu vân tay mực đỏ.

    (Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án lưu giữ tại Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận hồ sơ vụ án/vụ việc ngày 20/5/2024 giữa Kiểm sát viên Hoàng Văn Q và Thư ký Tòa án Lê Hồng P).

  7. Án phí:
  8. Bị cáo Chu Văn G phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

  9. Quyền kháng cáo:
  10. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/6/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Văn Lãng;
  • - CQĐT Công an huyện Văn Lãng;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lãng;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ khoảng tháng 02/2023 đến trước khi bị bắt, bị cáo Chu Văn G đã bỏ ra số tiền 223.900.000 đồng để quay vòng cho anh Nguyễn Văn T1, chị Trần Thị Ngọc Á và anh Lô Văn T cho vay 27 lần, với mỗi lần lãi suất đều trên 100%/năm (gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự là 20%/năm của khoản tiền vay), tổng số tiền thu lợi bất chính là 105.578.342 đồng, trong đó có 01 lần thu lợi bất chính 34.082.192 đồng, các lần còn lại dưới 30.000.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger