Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13 - 5 - 2024

V/v tranh chấp: “Ly hôn,

tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Minh Trâm.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Lam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân T - sinh năm 1985 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi thường trú: Khu phố 01, phường T, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Nơi ở hiện nay: Thôn N 01, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

2/ Bị đơn: Ông Nguyễn Hải V - sinh năm 1985 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 01, phường T, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Xuân T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hải V tự nguyện tìm hiểu và quen biết nhau một thời gian thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2009; có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận ngày 03/8/2009. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp được các vấn đề trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng không có tiếng nói chung; không chia sẻ với nhau cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra bà còn phát hiện ông V ngoại tình; bà đã tha thứ nhưng ông V không thay đổi. Sau đó bà phát hiện ông V có con riêng với người phụ nữ khác. Bà và ông V nói chuyện thì ông V yêu cầu bà chấp nhận sự việc. Tuy nhiên, bà không thể tiếp tục chung sống với ông V nên đã mang theo con chung về nhà cha mẹ ruột tại thôn N 01, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận sinh sống đến nay. Bà không còn tình cảm vợ chồng với ông V nữa nên kiên quyết yêu cầu được ly hôn.

Bà và ông Nguyễn Hải V có 02 con chung là Nguyễn Hoài  - sinh ngày 21/7/2010 và Nguyễn Hoài A - sinh ngày 01/6/2020; các con chung hiện sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung; bà không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Bà và ông Nguyễn Hải V không có tài sản chung và nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Xuân T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” ngày 23/4/2024, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Xuân T vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và những ý kiến đã khai tại Tòa án.

Bị đơn là ông Nguyễn Hải V: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông V không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:

Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn: Chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Xuân T.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Xuân T được ly hôn với ông Nguyễn Hải V.

Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Hoài  - sinh ngày 21/7/2010 và Nguyễn Hoài A - sinh ngày 01/6/2020 cho bà Nguyễn Thị Xuân T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà Nguyễn Thị Xuân T không yêu cầu ông Nguyễn Hải V cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Xuân T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với ông Nguyễn Hải V có nơi cư trú tại khu phố 01, phường T, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

[1.2]. Về việc vắng mặt nguyên đơn: Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” ngày 23/4/2024, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Xuân T xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, những ý kiến đã khai tại Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[1.3]. Về việc vắng mặt bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn ông Nguyễn Hải V nhưng ông V không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Nguyễn Hải V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường K, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2009, ngày 03/8/2009. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông V là hợp pháp. Bà T và ông V chung sống hạnh phúc được hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn và trở nên trầm trọng, đã không sống chung 02 năm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà T là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp được các vấn đề trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng không có tiếng nói chung; không chia sẻ với nhau cuộc sống hàng ngày. Ông V ngoại tình và có con riêng với người phụ nữ khác. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông V không đến Tòa án để làm việc, điều này chứng tỏ ông V thiếu thiện chí và không có mong muốn hàn gắn gia đình.

Theo “Đơn xin xác nhận” ngày 20/3/2024, đại diện thôn N 01, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đã xác nhận: “...Do đời sống chung vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Nguyễn Hải V có nhiều mâu thuẫn nên từ đầu năm 2022 đến nay, bà T và 02 con chung có về sinh sống với cha mẹ tại thôn N 01, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận”.

Xét thấy: Tình trạng mâu thuẫn giữa bà T và ông V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc bà T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông V là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên yêu cầu ly hôn của bà T được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Nguyễn Hải V có 02 con chung là Nguyễn Hoài  - sinh ngày 21/7/2010 và Nguyễn Hoài A - sinh ngày 01/6/2020. Xét yêu cầu được nuôi con của bà T, thấy rằng: Từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, hai cháu Ân và An do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Đối chiếu với công việc hiện nay là làm kế toán, mức thu nhập bình quân hàng tháng của bà T từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Như vậy bà T có đủ khả năng và điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, đảm bảo được sự phát triển toàn diện của con; phù hợp với khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình; phù hợp với nguyện vọng của cháu Ân tại “Bản tự khai” ngày 20/3/2024 là được ở với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cho bà T là người có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung.

[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Xuân T không yêu cầu ông Nguyễn Hải V thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Xuân T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bà Nguyễn Thị Xuân T phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Xuân T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Xuân T được ly hôn ông Nguyễn Hải V.
  2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Xuân T là người có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là Nguyễn Hoài  - sinh ngày 21/7/2010 và Nguyễn Hoài A - sinh ngày 01/6/2020.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Hải V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Xuân T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000700 ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị Xuân T đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;
  • - Chi cục THADS Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;
  • - UBND phường K (Số 42/2019,
  • quyển số 01, ngày 03/8/2009);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Nguyễn Thị Xuân T với ông Nguyễn Hải V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger