|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày: 11/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Thăng Bắc
Ông Nông Ngọc Hóa
Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 21/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 29/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Linh Văn S (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 19/4/1994 tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Linh Văn S1 và bà Lương Thị D; Có vợ là Hầu Thị D1 và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/5/2024 đến ngày 03/6/2024 thì được tại ngoại.
Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Linh Văn T, sinh năm 2003. Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Hoàng Trung T1, sinh năm 1962 - Người chứng kiến.
- Ông Nông Văn T2, sinh năm 1966 - Người chứng kiến.
Cùng địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 15 giờ 15 phút ngày 25/5/2024, tổ công tác của Công an xã M, huyện B đang làm nhiệm vụ tại đoạn đường thuộc thôn M, xã M, huyện B thì phát hiện Linh Văn S, sinh năm 1994, địa chỉ: thôn S, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 97H1-013.83 đi từ xã M, huyện B theo hướng về huyện N, tỉnh Bắc Kạn có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã dừng xe, tiến hành kiểm tra, phát hiện tại túi áo ngực phía trong bên trái đang mặc của Linh Văn S có 01 (Một) vỏ bao thuốc lá màu trắng bạc, vỏ in chữ WHITE HORSE, bên trong có 01 (Một) gói được gói bằng túi nilon màu xanh, tiếp đến là lớp giấy trắng (dạng giấy vệ sinh), bên trong có hai lớp giấy tráng kim loại màu trắng bạc chứa chất dạng cục, bột màu trắng. Linh Văn S khai nhận, chất dạng cục, bột màu trắng trong gói là H được S mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong gói nhỏ nghi là ma túy vào phong bì ký hiệu A1.
Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Sùng 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu vàng, viền trắng, mặt trước và mặt sau có in chữ SAMSUNG, màn hình có vết nứt vỡ, điện thoại cũ đã qua sử dụng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu A2; thu giữ 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, 01 (Một) giấy phép lái xe, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu A3; thu giữ 01 (Một) xe mô tô BKS 97H1-013.83 dán nhãn HONDA Wave màu đen, không có gương chiếu hậu bên phải, xe cũ đã qua sử dụng; Linh Văn S tự nguyện giao nộp 01 (Một) vật chứng là chiếc áo khoác màu xám, trước ngực bên trái có gắn chữ SUPEREM màu đỏ S dùng để cất giấu ma túy và mặc trên người khi bị bắt quả tang, áo cũ đã qua sử dụng.
Cùng ngày, Công an xã M đã chuyển vụ việc và các tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn để giải quyết theo thẩm quyền
Tại biên bản mở, đóng niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng nghi là chất ma túy ngày 25/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xác định: Gói bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine thu giữ của Linh Văn S cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi chất ma túy Heroine có khối lượng là 0,13g (Không phẩy một ba gam). Niêm phong toàn bộ 0,13g (Không phẩy một ba gam) chất dạng cục, bột màu trắng vào phong bì ký hiệu B1 để gửi giám định. Niêm phong toàn bộ phong bì, giấy gói cũ vào phong bì ký hiệu B2.
Trên cơ sở đó, vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 26/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và công trình phụ cận có liên quan tại chỗ ở của Linh Văn S tại thôn S, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả phát hiện và thu giữ được 01 (Một) túi nilon màu hồng, bên trong chứa 09 (Chín) đoạn dây cháy chậm, vỏ màu nâu; 01 (Một) túi nilon màu trắng bạc bên trong chứa 01 (Một) túi nilon nhỏ đựng 07 (Bảy) khối hình trụ tròn, màu trắng bạc (nghi là kíp nổ) và 11 (Mười một) khối hình trụ tròn màu trắng bạc, một đầu được nối với các đoạn dây điện có vỏ màu đỏ, xanh, vàng; 01 (Một) túi nilon màu xanh bên trong chứa 06 (Sáu) khối hình trụ tròn, màu nâu xám được bọc bằng nilon có thắt nút ở phần đầu nghi là thuốc nổ.
Tại bản Kết luận giám định số 179/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là D2 được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 có khối lượng là 0,13g (Không phẩy một ba gam)”.
Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại 0,09g (Không phẩy không chín gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T109 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
Tại giai đoạn điều tra, truy tố Linh Văn S khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi vi phạm, số tiền dùng để mua ma túy, số lượng ma túy đã mua và tàng trữ, cụ thể: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 25/5/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Linh Văn S đã hỏi mượn xe mô tô BKS 97H1-013.83 của anh Linh Văn T, sinh năm 2003, địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn rồi điều khiển xe đi đến thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy. Khi xuống đến thị trấn C thì S gặp một người đàn ông lạ mặt, không quen biết nhìn giống người nghiện ma túy tại khu vực cổng Trung tâm y tế huyện B thuộc tiểu khu B, thị trấn C, huyện B nên S đã dừng xe nói chuyện và hỏi mua được 01 (Một) gói ma túy với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy S đi đến đoạn đường vắng trích ra một ít để sử dụng, số còn lại chưa dùng hết Sùng gói lại và cất giấu trong túi áo ngực phía trong bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà, khi đi đến đoạn đường thuộc thôn M, xã M, huyện B thì bị cơ quan Công an phát hiện và bắt quả tang.
Quá trình điều tra còn xác định được Linh Văn S là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, thuộc diện hộ nghèo có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Không có tài liệu chứng minh bản thân hoặc gia đình thuộc diện chính sách, người có công với cách mạng.
Tại cáo trạng số 37/CT-VKSBB ngày 19/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố L văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:
a) ...
c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...”
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
* Tại phiên tòa:
- Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Linh Văn T trình bày: Chiếc xe mô tô 97H1-013.83 dán nhãn HONDA Wave màu đen, không có gương chiếu hậu bên phải, xe cũ đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của anh T được mua từ đầu năm 2024 với người tên Bàn Văn V. Ngày 25/5/2024 S có hỏi anh T cho mượn chiếc xe mô tô này để sử dụng, anh T đồng ý. Tuy nhiên, cụ thể Sùng mang chiếc xe đi đâu, với ai, làm gì thì không nói cho anh T được biết, do đó anh T không biết việc bị cáo S mang xe đi để thực hiện hành vi phạm tội, anh T đề nghị được lấy lại chiếc xe mô tô này.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn duy trì quyền công tố tại phiên tòa: Tại bản cáo trạng công bố tại phiên tòa, căn cứ Điều 306/BLTTHS đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể thay đổi thông tin về dân tộc của bị cáo từ dân tộc H'Mông thành dân tộc Mông và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Linh Văn S về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Linh Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, Điều 51/BLHS: Xử phạt bị cáo Linh Văn S từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTH:
Tịch thu tiêu hủy đối với: 02 (Hai) phong bì niêm phong ký hiệu T109, B2, và 01 áo khoác màu xám, trước ngực bên trái có gắn chữ SUPEREM màu đỏ, áo cũ đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu vàng, viền trắng, mặt trước và mặt sau sau có in chữ SAMSUNG, màn hình cảm ứng có vết nứt vỡ, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 giấy phép lái xe.
Trả lại cho anh L Văn Thanh 01 (Một) xe mô tô BKS 97H1-013.83 dán nhãn HONDA Wave màu đen, không có gương chiếu hậu bên phải, xe cũ đã qua sử dụng và giấy tờ xe có liên quan.
+ Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
- Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng số 37/CT-VKSBB ngày 19/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể và bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, không tự bào chữa, không tranh luận. Bị cáo nhất trí với nội dung thay đổi thông tin dân tộc của bị cáo được Đại diện Viện Kiểm sát công bố tại phiên tòa. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp nhất cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về tái hòa nhập gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo cung cấp: Xét thấy đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người chứng kiến, tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, việc vắng mặt của những người chứng kiến tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định:
Vào hồi 15 giờ 15 phút ngày 25/5/2024 tại thôn M, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Linh Văn S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,13g (Không phẩy một ba gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và không bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện.
Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Linh Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tội phạm Linh Văn S thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, là nguyên nhân và nguy cơ làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Bị cáo có nhân thân tốt, trước khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này thì không có tiền án tiền sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng 01 (Một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt:
Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về hình phạt chính: Xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với thực tiễn xét xử tại địa phương để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249/BLHS quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tuy nhiên xét hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng gì có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng:
Gồm có:
- 01 (Một) phong bì ký hiệu T109, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, vỏ bao thuốc lá, túi nilon, giấy gói cũ; 01 (Một) chiếc áo khoác màu xám, trước ngực bên trái có gắn chữ SUPEREM màu đỏ, tình trạng cũ, đã qua sử dụng được bị cáo dùng để cất giấu ma túy và mặc trên người khi bị bắt quả tang về hành vi phạm tội. Xác định đây là những vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị do đó cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 (Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc đều tên Bàn Văn V đối với chiếc xe BKS 97H1-013.83; 01 (Một) Giấy phép lái xe tên Linh Văn S. Trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động cảm ứng, màu vàng, viền trắng, mặt trước và mặt sau có in chữ SAMSUNG, màn hình cảm ứng có vết nứt vỡ, điện thoại cũ đã qua sử dụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận việc mua ma túy được bị cáo giao dịch trực tiếp với người đàn ông lạ mặt tình cờ gặp trên đường, không hẹn trước, không liên lạc qua điện thoại. Tại biên bản mở niêm phong ngày 29/5/2024 đối với phong bì niêm phong ký hiệu A2 chứa chiếc điện thoại nêu trên tiến hành kiểm tra nội dung cuộc gọi, tin nhắn và các ứng dụng trên điện thoại không phát hiện nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội của Linh Văn S. Xác định chiếc điện thoại trên không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó trả lại cho bị cáo theo quy định.
- 01 (Một) xe mô tô BKS 97H1-013.83 dán nhãn HONDA Wave màu đen, không có gương chiếu hậu bên phải, xe cũ đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phục vụ cho quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều khai chiếc xe mô tô nói trên là tài sản của anh Linh Văn T, sinh năm 2003, địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Ngày 25/5/2024 bị cáo đã hỏi mượn chiếc xe này của anh T để sử dụng, tuy nhiên cụ thể bị cáo lấy xe đi đâu, với ai, làm gì thì bị cáo không nói cho anh T được biết. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của anh L Văn T và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, cần trả lại chiếc xe mô tô này cho anh Linh Văn T.
[7] Về vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Linh Văn S: Quá trình điều tra không xác minh, xác định được đối tượng, do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.
Đối với anh Linh Văn T là chủ sở hữu chiếc xe mô tô BKS 97H1-013.83: Việc S lấy xe để làm phương tiện đi mua ma túy thì anh T không biết, do đó cơ quan điều tra không xem xét, xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.
Đối với các vật nghi là dây cháy chậm, kíp nổ, thuốc nổ thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở và các công trình phụ cận có liên quan tại nơi cư trú của Linh Văn S có địa chỉ thôn S, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn: Xác định là những vật không liên quan trong vụ án này do đó ngày 27/5/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển vụ việc và tang vật cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B giải quyết theo thẩm quyền Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.
[8] Về những sửa đổi, bổ sung tại bản cáo trạng được công bố tại phiên tòa và quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân:
Tại bản cáo trạng công bố tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể thay đổi nội dung về thông tin dân tộc của bị cáo từ dân tộc H'Mông thành dân tộc Mông. Xét thấy việc thay đổi thông tin này của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án về số định danh cá nhân và thông tin công dân của bị cáo trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, không làm xấu đi tình trạng của bị cáo; không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cần được chấp nhận.
Xét thấy quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, xét thấy cần chấp nhận miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Linh Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Linh Văn S 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 25/5/2024 đến ngày 03/6/2024.
[3]. Về vật chứng:
[3.1]. Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (Một) phong bì ký hiệu T109, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, vỏ bao thuốc lá, túi nilon, giấy gói cũ; 01 (Một) chiếc áo khoác màu xám, tại trước ngực bên trái có gắn chữ SUPEREM màu đỏ, tình trạng cũ, đã qua sử dụng.
[3.2]. Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) chiếc điện thoại di động cảm ứng, màu vàng, viền trắng, mặt trước và mặt sau có in chữ SAMSUNG, màn hình cảm ứng có vết nứt vỡ, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 (Một) Giấy phép lái xe tên Linh Văn S.
[3.3]. Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Linh Văn T, sinh năm 2003, địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn 01 (Một) xe mô tô BKS 97H1-013.83, dán nhãn HONDA Wave màu đen, không có gương chiếu hậu bên phải, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 (Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc đều tên Bàn Văn V.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận ngày 20/8/2024 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn)
[4]. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Linh |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 15 giờ 15 phút ngày 25/5/2024 tại thôn Mỹ Vy, xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Linh Văn Sùng đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,13g (Không phẩy một ba gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
